Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2014

Phọt Phẹt: Con Cù với lại con Cầy - Chẳng qua phải cái tội "đầy", thế thôi!

Tây bảo:
"Tại Điếu nó quyết đi Tây..."

Điếu cãi:
"Thày mà không quyết, thì Cầy chã đi ..."

 phot_phet 11:23 Ngày 22 tháng 10 năm 2014

Hình luật xưa xứ Lừa có ngũ hình:

1- Xuy: đánh roi
2- Trượng: đánh gậy
3- Đồ: khổ sai
4- Lưu: đày đi nơi xa
5- Tử: giết chết.

Thế nên việc Cù con và mới hôm qua là Điếu cày được " trả tự do" rùi "

phóng thích" sang Mẽo quốc chả qua là cái đệ tứ trong ngũ hình thôi.

Tức là lưu đày. Rất cận với cái đệ ngũ hình là...giết chết.


Hết chuyện!


Thứ Năm, 30 tháng 10, 2014

Chế độ Ngô Đình Diệm qua ngòi bút nhà văn Vũ Bằng.


Nhân ngày ông Diệm bị chính các tướng lĩnh của chính thể VNCH do ông lập ra thủ tiêu (2/11/1963), trích lại vài đoạn từ hồi ký "Bốn mươi năm nói láo" của Nhà văn Vũ Bằng, (viết trong những năm 1967 - 1969, tại Saigon, nhà XB Sống Mới), để có một cái nhìn chế độ Diệm từ góc độ báo chí VNCH thời đó.
-----------

 ... Như thường lệ, vào dịp hai mươi ba Tết năm ấy, trong mục “Thiên hạ sự”, tôi có viết một bài tếu nói về việc đốt vàng mã và nhân dịp có kể lại câu hát cũ:
Ba mươi tết, tết lại ba mươi,
Vợ thằng Ngô đốt vàng cho chú khách,
Một tay cầm cái dù rách
Một tay xách cái chăn bông
...
Ai ngờ chỉ có thế mà sanh ra to chuyện. Bộ Thông tin - hồi ấy do ông Trần Chánh Thành điều khiển – cho chữ “thằng Ngô” đó là nói sỏ (sic) ông Ngô Đình Diệm, nhờ Công An điều tra và làm lung tung lên một dạo, tưởng chừng như là sắp tận thế đến nơi.
Bây giờ, mỗi khi nói đến chế độ kiểm duyệt, tôi hay đem hai sự việc (“thằng Ngô” và “chó Nhựt”) trên kia ra so sánh và buồn cười không chịu được. Nhưng biết làm sao, ở một nước có tổng thống, có hiến pháp như mình, có bao nhiêu quốc gia thừa nhận, luật pháp không phải là trò đùa, chống đối lại chỉ là chơi với lửa. Hầu hết các báo đều hiền như con cừu. Gan lắm thì im lặng, không công kích, không nói bóng nói gió một câu đến chính quyền; còn lại bao nhiêu báo khác thì a dua, nịnh bợ không tiếc lời; hơn thế, lại còn tiếc là sao chữ Việt mình nghèo qúa, để cho mình không đủ chữ để mà nịnh cho thực đã … Vì thế, ta thấy có ông nhà báo xin đến ngâm thơ cho tổng thống nghe; có ông đề nghị lập tượng tổng thống ở chợ Bình Tây và có ông được tổng thống tiếp kiến về viết bài ca tụng tổng thống, ví tổng thống với mặt trời ở trong dinh Độc Lập.
Thực ra, các nhà báo ấy viết ra như thế, in lên như thế, nhưng ở thâm tâm thì một số lớn chửi thầm tổng thống, song cái việc phải nịnh thì cứ nịnh, nịnh bất cứ ai, miễn có lợi thì thôi, nếu dại dột mà đả kích Ngài thì chỉ có mà  … ăn sắn. Nghĩa là nhà báo chống đối chẳng trước thì sau cũng bị lâm vào mấy cái thế sau đây: báo bị đóng cửa; chủ nhiệm, quản lý … bị đưa đi bí mật ban đêm; nếu không thế thì một ngày đẹp trời nào đó tự nhiên cũng bị ghép vào tội gá bạc, tống tiền, dỗ gái vị thành niên hay đi lừa đảo, đưa ra toà, gia sản bị tịch biên, có bao nhiêu vốn liếng đi tiêu hết.
Lúc ấy sau ba lần thắng Bình Xuyên và áp dụng biện pháp mạnh đối với các giáo phái, thắng lợi, Ngô Đình Diệm bắt đầu có lông có cánh, ra mặt chống Bảo Đại, không đi Pháp để trình với Quốc trưởng về các biến cố ở nước nhà, nhưng ở lì trong nước tập làm độc tài cỏ, đưa họ hàng lên nắm hết các chức vụ quan trọng. 
....
Nói một cách khác, ngay trong gia đình Trần Văn (Trần Văn Chương, thân sinh Trần Lệ Xuân, tức vợ ông Nhu, TLý) đã có sự tranh giành quyền thế, mà giữa họ Trần Văn và họ Ngô Đình lại cũng có sự tranh giành nữa; nhưng tựu trung Việt Nam lúc bấy giờ là một quốc gia cảnh sát do hai gia đình quan lại Trần Văn và Ngô Đình nắm hết quyền hành. Gia đình Trần Văn tương đối còn trung thành phần nào với tập tục cổ truyền của nhà vua Bảo Đại, chớ họ Ngô Đình thì trắng trợn ly khai với chế độ cũ và nuôi cái mộng lập một triều đại mới: triều đại Ngô Đình.
Cố nhiên muốn thực hiện mộng đó, phải tàn ác diệt trừ những cá nhân, đoàn thể chống đối, mà cá nhân và đoàn thể chống đối lúc ấy là những người gốc ở miền Bắc và miền Nam chỉ muốn nhà Ngô giữ lời đã hứa là tổ chức một cuộc bầu cử để họ có thể bầu người đại diện của họ lên lo việc nước. Theo những người có tiếng là chống đối này, ông Diệm là một lính nhảy dù do Mỹ thả từ trên trời xuống và không có rễ ở dưới đất. Đứng trước sự chỉ trích hỗn xược đó, ông Nhu và vợ đặt ở các văn phòng các đường phố một số mật báo viên, có nhiệm vụ báo cáo những phần tử chỉ trích chánh phủ; ngoài ra theo dõi hành động của các tờ báo khác, hồ thấy viết một câu nào xa xôi, xách mé bóng gió thì đóng cửa vĩnh viễn, còn ký giả nào bướng bỉnh, không quy phục thì chụp cái nón cối Cọng sản lên đầu, cho xuống hầm tối để không bao giờ lên được đất liền nữa, hoặc có lên được cũng mù loà, què quặt, bán thân bất toại.  
Không khí làng báo lúc ấy thực đìu hiu, tẻ lạnh. Mỗi buổi sáng, người làm báo nhận được những  điện thoại cho biết phải tránh những tin gì không được nói, những lời tuyên bố nào của ông Diệm, bà Nhu phải làm to; thậm chí lại có khi buộc phải đưa câu nói này của bà Nhu lên làm vơ-đét tám cột, diễn văn kia của ông Diệm năm cột và kèm theo thật nhiều tranh ảnh.
Tôi yên lặng ngồi viết sách cho nhà xuất bản “Phạm Văn Tươi”, “Thế Giới”, và nghe thấy từ dưới đường vọng lên những tiếng chuyển động khác thường: đó là tiếng oán than của những cuống họng bị bóp nghẹt lẫn với tiếng cười của trai gái đú đởn trong ánh đèn mầu, tiếng nguyền rủa não nề của dân chúng tắt thở vì chế độ tự do bị nhà Ngô bóp chẹt. Các giáo phái, các chánh đảng, các tầng lớp nhân dân nghĩ phải làm một cái gì, nếu không thì quá trễ, nhưng, thay vì đoàn kết để chống lại nhà Ngô thì họ lại chia rẽ, kình chống nhau. Các chánh đảng không thể thống nhứt trong một mặt trận chung, vì thế vợ chồng ông Nhu càng đắc thế và càng áp dụng hữu hiệu nhiều chiến thuật “chia để trị”.
Báo chí cúi đầu theo răm rắp, suy tôn Ngô tổng thống. Vào chiếu bóng, rạp hát, phải chào cờ và đứng nghiêm nghe nhạc trổi bài “Toàn dân Việt Nam biết ơn Ngô tổng thống – Ngô tổng thống, Ngô tổng thống … muôn năm cho đến khi lá cờ vàng sọc đỏ mờ dần cùng với cái hình ông lùn mập, mới có quyền ngồi xuống để xem “đượi” Âu Châu nhảy tuýt. Báo câm như hến. Không có một ký giả nào dám lên tiếng phản đối anh em nhà Ngô, dù là phản đối xa xôi.
Phải đợi mãi đến năm 1960, cơn sốt mới bùng lên : đại tá Nguyễn Chánh Thi, trung tá Vương Văn Đông , cùng một số sỹ quan đem quân vây dinh Độc Lập và đòi Ngô Đình Diệm rút lui.  Ngô Đình Diệm trao quyền cho những tướng lãnh để lập chính phủ khác, nhưng sau nhờ các sư đòan 7 ở Biên Hoà và sư đòan 21 ở Mỹ Tho về ứng cứu kịp thời, Ngô Đình Diệm thóat chết: Đại tá Nguyễn Chánh Thi và trung tá Vương Văn Đông rời khỏi Việt Nam, Ngô Đình Diệm lại phệnh phà phệnh phạo tuyên bố hỗn xược không chê được, và cố nhiên Quốc Hội lại ngỏ lời trung thành, các đoàn thể lại biểu tình ủng hộ và lũ cầy cáo hèn nhát đi với cách mạng lại quay về thần phục nhà Ngô.
Lúc ấy, tôi đang làm “Dân Chúng”. Tôi còn nhớ bầu không khí nẩy lửa đó, ai cũng hăng say muốn thấy Ngô Đình Diệm và công ty, bị chết đâm chết chém..  Cứ đăng hết những tin tức đảo chánh lúc đó, không thêm bớt, thì độc giả cũng đã khóai tỉ lắm rổi , khỏi cần bình luận; nhưng đa số nhân viên “Dân Chúng” dè dặt không dám đăng thật rõ, có ý muốn “trông và chờ”, một phần vì sợ cho tính mạng tờ báo sau này nếu cuộc đảo chánh không thành và mặt khác thì anh em không dám quyết định một thái độ dứt khoát vì lẽ khi ấy giám đốc tờ “Dân Chúng” là ông Mạc Kinh Trần Thế Xương, lại không có mặt ở Việt Nam. Tô Văn và Cát Hữu thấy Phi Vân tỏ ra sợ sệt, chửi ầm cả lên, nhưng rút lại báo “Dân Chúng” tương đối lúc ấy “hiền lành” và mỗi khi có tin gì bất lợi cho Ngô Đình Diệm thì viết một giọng hoài nghi, đánh dấu hỏi, chớ không dám quả quyết như mấy tờ báo khác.
Bây giờ, nói đến chuyện hiệp thương, hoà hội là thường, nhưng có ai đã sống sát với thời cuộc lúc đó đều thấy rằng đưa vấn đề ấy ra làm tám cột, kéo dài hàng tháng phải là “trì” lắm. Nhất là đối với Ngô Đình Diệm là một thứ ngưòi có thành kiến, lỳ lợm, thì sự việc ấy lại càng đáng kể lắm, vì Diệm không thích cái gì thì không muốn cho ai nói tới. Trái lại, dân chúng chán ngấy chế độ tự do dân chủ ngụy tạo của Diệm, lại muốn hiêp thương hai miền Nam Bắc, nên loạt bài của “Dân Chúng” ra đời thì độc giả tìm đọc “không chịu được”, nhất là họ lại không biết – vì chánh quyền giấu kín lắm - bức thư của Phạm Văn Đồng gửi cho Ngô Đình Diệm, nên cho rằng việc báo “Dân Chúng” đề cập đến vấn đề hiệp thương Nam Bắc là một hành động can đảm và sáng suốt. Thế là báo “Dân Chúng” một phát hồi lại như thường. Lúc ấy đi lại chặt chẽ với nhau có Trần Tế Xương, Bùi Anh Tuần và tôi, các bạn bè ở ngoài phần nhiều không giao thiệp công khai, môt phần vì sợ mật vụ của Ngô Đình Diệm theo dõi và chơi vố gì xấu chăng.
  …
Nhưng báo hay cũng như người đẹp: Không để cho người ta thấy bạc đầu. Sau vụ đảo chánh 1960, Ngô Đình Diệm không chết, nhưng lại chết tờ báo tương đối e dè nhất, cân nhắc nhất, khi tường thuật các biến cố xảy ra. Tôi và mấy người bạn đang ngồi ở trên lầu vừa đánh phé, vừa ôn lại mấy ngày sôi nổi vừa qua, thì hàng chục xe ô tô nhà binh và Cảnh Sát đến khám xét nhà báo, đập phá máy in, tung hê các ô chữ ra đường, rồi lấy giấy tờ, máy chữ, bút máy, bình mực, búp bê, nón mốt săng, áo mưa … lấy hết, đem đi. Nhà báo thì khóa ba khóa, niêm phong cẩn thận, sau khi để cho các người ở trong toà báo vừa kịp khoác cái sơ mi, đi ra ngoài. Một vài tờ báo khác cũng lâm vào trường hợp như chúng tôi lúc đó. Anh em “Dân Chúng” tản mác mỗi người mỗi ngả. Cố nhiên là trong bọn có một vài người vì vấn đề cơm áo, vợ con, ngầm đi với bọn mật vụ còm để xin tha tội “treo cổ” – vì ở đâu cũng có bích chương viết tay đòi treo cổ người này, bắn chết người kia – nhưng đa số thì lì lợm, ăn xong ngồi đánh phé và loan báo cho nhau biết bọn chánh khách, quân nhân nào đã xé hàng rào cách mạng, chạy vào dinh Độc Lập, bọn nào đã làm hư cuộc đảo chánh và đã khóc lóc như trẻ con lúc bị trói ở trường bay Tân Sơn Nhứt và không quên theo dõi hành động của Nhu Diệm cùng bề tôi nhắm củng cố địa vị, uy tín, đồng thời sẽ đối phó với những người tham gia cuộc đảo chánh ra sao.
 ....
Saigon, sau ngày đảo chánh hụt 1-11-60, lần lần trở lại bộ mặt bình thường. Những báo đăng những tin bất lợi cho ông Ngô Đình Diệm trong cuộc đảo chánh lo sốt vó. Lúc ấy, những người có công với các ông Diệm và Nhu giả thử muốn phá nhà báo nào, cho ký giả nào đi mò tôm cũng cứ được đi, nhưng họ đã khôn khéo không nghĩ tới việc đối phó mà chỉ lo củng cố địa vị cho ông Diệm. Nhất cử, nhất động lúc ấy là thận trọng. Ngoài mấy tờ báo đóng cửa, chính phủ không cho ra thêm một tờ báo nào hết, trừ ba người có thể chắc chắn là không phản bội, hơn thế lại có công lao không ít thì nhiều với họ Ngô hay bác sĩ Trần Kim Tuyến: ông Huỳnh Thành Vị được phép xuất bản tờ “Đồng Nai”, Ngô Quân tờ “Saigon Mai” và Trung tá Châu (Giám đốc Nha Chiến tranh Tâm lý) tờ “Tiếng Dân”.
Ối chao ngán quá, ngán đến nỗi không buồn xem hình nữa, không buồn đọc bài nữa, dù là những bài tối quan trọng như bài tường thuật lễ cửu tuần khánh thọ bà mẹ ông Ngô Đình Diệm ở Huế có nhiều đại diện các đoàn thể và rất đông cao cấp trong chánh quyền về chúc mừng “thái từ”, mà bộ Nội vụ lại tổ chức một lễ tạ ơn tại Vương Cung Thánh Đường.
Tờ “Tiếng Dân” gặp sự bê bối ngay từ lúc ra số 1, vì mỗi phe có một số người của riêng mình, mà cũng ngay từ lúc mới quãng cáo, ở Huế, đã có con cháu của cụ Huỳnh Thúc Kháng bắn tin là không thể đem bôi nhọ tên một tờ baó đã có hồi lừng danh ở Huế. Nói như vậy, tức là tờ “Tiếng Dân” đã mang tiếng là báo của nhà Ngô ít nhiều rồi; vì thế chúng tôi phải hết sức tìm cách né tránh, viết lách thế nào để cho thiên hạ đỡ chửi là quân liếm gót.  Dù biết rằng báo này có hai mục tiêu, một là suy tôn Ngô Đình Diệm, thần thánh hoá ông ta (vì ông ta đã mất uy tín rất nhiều sau cuộc đảo chánh 1960) và hai là đối phó với những liên danh chống đối ông trong cuộc tranh cử Tổng Thống nhiệm kỳ II vào đầu năm 1961, chúng tôi cố ý làm ra mặt dớ dẩn, toàn bàn về vấn đề nông thôn và đăng những tin tức cố tránh đụng chạm đến Nhu và Diệm, không đả kích những người đảo chánh Diệm mà cũng chẳng hề đụng chạm đến những liên danh II và III mà ngay từ tháng giêng 1961, chúng tôi đã biết có ai, tuy là các liên danh ấy chưa tiết lộ ra bên ngoài.  Đó là liên danh Nguyễn Đình Quát - Nguyễn Thành Phương và liên danh Hồ Nhựt Tân - Nguyễn Thế Truyền, ấy là không kể nhiều liên danh khác hoặc trù trừ không quyết định ra vì biết sẽ bị gian lận, mất công vô ích, hoặc bị Nhu Diệm cho người đến mua chuộc, tống ít tiền lẻ để đừng ra ứng cử làm gì cho quẩn chân.
Lúc ấy, Mỹ còn nuôi hy vọng ăn đứt Việt Nam, dù cách gì đi nữa thì Diệm cũng vẫn ngồi vững ở ghế Tổng Thống như thường; ai cũng biết như vậy, kể cả Nguyễn Đình Quát; nhưng đã chót cưỡi lên lưng cọp rồi, Quát cứ phải liều, dù phải trả mắc tiền: Quát chưởi Diệm đã sướng miệng và kể từ lúc bấy giờ về trước, có lẽ không có ai dám khi quân chửi Diệm đau như thế, và hơn  nữa lại công khai dám công bố ở rạp Thống Nhất một ý kiến mà cũng từ trước cho tới lúc đó không ai dám hé môi nói ra lời: ông hứa nếu  đắc cử sẽ điều đình ngưng bắn, tái lập hoà bình ở Việt Nam! Tất cả những tin tức liên quan đến cuộc vận động bầu cử Tổng Thống, chúng tôi cho vào một mục ở cuối trang nhất, không lấy gì làm long trọng…Phần chính của báo là đề cao Phật Giáo ngay giữa lúc Công Giáo đang lên hương, bọn Nhu Diệm làm chúa tể, Đức cha Nguyễn Văn Bình làm lễ nhậm chức Tổng giám mục ở Saigon mà Ngô Đình Cẩn thì bắt đầu ngấm ngầm chơi tăng ni, phật tử ở Huế.  Chúng tôi đánh một trận hoả mù làm cho không ai hiểu đường lối của báo ra sao, nhắm  mục đích là nếu có một số đọc giả cố định rồi thì quay về làm  tin tức và chú tâm mổ xẻ, cưú xét các vấn đề thời sự, nhưng không thể được. Riêng tôi thấy rằng làm báo ở dưới một chính thể độc tài độc đóan, thì dù muốn xoay sở thế nào, bịp bợm thế nào cũng vẫn không thể thoát khỏi được ra ngoài quỹ đạo cuả chế độ và cuối cùng đọc giả cũng biết ai ngay, ai gian.  Báo nào mới ra đời cũng la thét ghê gớm lắm: nào dám nói, dám làm, dám chửi; nào phục vụ nhân dân, đứng hẳn về phiá đối lập, đòi công bằng xã hội, tranh đấu cho đồng bào có cơm no áo ấm; nào quét sạch thối tha, nhơ bẩn, dám làm, dám chết… nhưng rút cục trong một chính thể độc tài, nô lệ, dân chủ ngụy tạo như chính thể nhà Ngô, chẳng có một tờ báo nào thoát được ra ngoài quỹ đạo của chế độ Ngô Đình Diệm.
Sau cuộc đảo chánh hụt Ngô Đình Diệm, đa số dân chúng đều tỏ ý tịếc rẻ sao trung tá Đông không giết phắt Diệm đi lại cứ hội đàm vớ vẩn với Diệm làm gì, bàn tính chuyện chia đôi Saigon làm gì để cho ông ta lật lại được thế cờ, trở lại sống phây phây, ra ứng cử tổng thống nhiệm kỳ II. Do đó người dân lúc ấy theo sát thời cuộc để xem Mỹ đối phó ra sao, phe cách mạng còn làm gì nữa không, và Ngô Đình Diệm sẽ gẫy hay là cứ sống nhăn như thế mãi. Người ta lại càng tò mò muốn biết Ngô Đình Diệm, sau vụ sống sót này, có thay đổi thái độ đi không.
Ngay từ cuối năm Tý, đã có tin Diệm cải tổ chánh phủ. Thường thường nghe thấy tin cải tổ, người dân không để ý, vì họ cho là nội các nào cũng “hầm bà làng” giống như nhau, nhưng đặc biệt lần này họ chú ý nghe ngóng xem Diệm cải tổ ra sao, vì họ tin rằng cuộc đảo chánh vừa qua ít ra cũng mở mắt cho Diệm và Diệm cũng đỡ độc tài như trước.  
 ......
Hai năm 1962 và 1963 là hai năm xui xẻo nhất của Ngô Đình Diệm. Dinh Độc Lập bị hai phi cơ Việt Nam ném bom và bắn phá làm hư phía tay trái, gây tổn thất nặng cho tư thất của cố vấn Ngô Đình Nhu, và phòng giấy của bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần. Trong khi bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ vẫn gia công tuyên bố tình hình Việt Nam vẫn vững; trong khi nhà Ngô làm ra bộ phớt tỉnh và tiếp tục đàn áp các nhà ái quốc tiến bộ, thì kinh tế trong nước bắt đầu suy sụp: gạo tăng giá, thịt heo khan tăng từ 30 lên 50 đồng một ký mỡ, từ 60 lên 90 đồng một ký nạc, dân chúng bắt đầu thấy reo neo; nhưng toàn dân, không phân biệt giai cấp, phải góp tiền để tái thiết dinh Độc lập. Số Kiến Thiết từ 1.600.000 in tăng lên 3 triệu.
Báo chí không lúc nào ngưng suy tôn Ngô tổng thống.  Mọi việc đều trơn tru, êm đẹp. Nếu không có Ngô tổng thống thì toàn dân chết không còn một mống. Muôn năm, muôn năm. Hơn 300 căn nhà cháy ở Xóm Chiếu; 100 nóc nhà khác bị kéo sập; không ngày nào không bắt được những tên châm lửa đốt nhà. Một ngàn rưởi căn nhà cháy rụi ở đường Trần Quốc Toản; 30 nhà khác ra tro ở đường Trương Minh Giảng; lại ba vụ khác nữa gây thiệt hại không nhỏ ở Khánh Hội; đó là nhờ ơn đức của Ngô Đình Diệm nữa. Muôn năm, muôn năm. Nhưng báo chí bắt đầu tăng cường muôn năm, muôn năm Ngô Đình Diệm dữ dội nhất từ lúc cảnh sát hạ cờ Phật Giáo ở Huế nhân ngày Phật Đản, các lực lượng an ninh giải tán các cuộc tụ họp của Phật Giáo ở Huế cũng như ở Saigon.
Một phái đoàn gồm sáu thượng toạ và đại đức yết kiến Ngô Đình Diệm đưa ra năm nguyện vọng: bãi bỏ lịnh cấm treo cờ Phật Giáo; cho Phật Giáo hưởng chế độ ngang hàng với các hội truyền giáo Thiên Chúa; chấm dứt khủng bố và bắt bớ phật tử; để Tăng ni và Phật tử tự do truyền đạo và hành đạo; bồi thường cho các gia đình nạn nhân và trừng trị những nhân viên có lỗi làm đổ máu.
Cuộc tranh chấp bắt đầu găng từ đó. Nay, Phật tử biểu tình ờ Huế. Có xô xát. Một số lớn bị thương. Mai, Phật tử biểu tình ở Saigon. Hơi cay xịt ra tứ tung làm cho dân chúng sưng cả mắt. Mốt, ruồng bắt các chùa chiền, cảnh sát cho biết là bắt được nhiều lựu đạn và súng ống. Thế rồi, trước một số đông tăng ni, tại ngã tư đường Lê Văn Duyệt – Phan Đình Phùng, Thượng Toạ Thích Quảng Đức tự thiêu bằng dầu xăng. Cả thế giới rung động. Có nhiều người khóc. Lòng căm thù oán trách Ngô Đình Diệm bay cao thấu trời. Việt Nam Cộng Hòa, như nhà có tang, một mặt phải lo chống Cộng, một mặt phải đối phó với cao trào Phật Giáo mỗi ngày một găng hơn: Ngô Đình Diệm gửi thông điệp kêu gọi dân chúng bình tĩnh. Paulus Hiếu – cũng nhận là họ Ngô - thề bán sống bán chết không tuyên bố điều gì vu khống hay công kích Phật Giáo; Nguyễn Ngọc Thơ mời Hoà Thượng Thích Tịnh Khiết tới họp với Ủy Ban liên bộ, nhưng tất cả đều vô ích.
Tăng ni biểu tình trước nhà đại sứ Hoa Kỳ. Phật tử, đại đức thi đua tự thiêu ở khắp nơi. Sự công phẫn tràn lan khắp nước. Phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ bù đầu – tuy đầu sói - về việc lập ủy ban hỗn hợp để thi hành thông cáo chung. Bà Ngô Đình Nhu chửi bố là Trần Văn Chương, vì đại sứ Chương đã trách bà “thiếu lễ độ” đối với Phật Giáo. Lịnh giới ghiêm được ban hành. Các chùa Xá Lợi, Ấn Quang, Kỳ Viên Tự bị khám xét .Máu Phật tử đổ khắp nơi.  Hội Đồng Chính Phủ họp lúc gần sáng. Saigon và Gia Định cũng thi hành lịnh giới nghiêm, cấm đi lại ban đêm từ 9giờ đến 5 giờ sáng. Nhà họ Ngô khát máu tiếp tục thi hành chính sách cường hào ác bá, giết kỳ hết những người phản đối họ. Trong khi đó thì có tin Việt Cộng sắp tràn ngập thủ đô, Ngô Đình Diệm đặt thiếu tướng Tôn Thất Đính làm tổng trấn Saigon – Gia Định và giao cho quân đội bảo vệ an ninh, trật tự, Phật tử nào biểu tình , trí thức nào chống đối cho phơ tuốt. May cho bố bà Nhu là Trần Văn Chương không bị phơ (phơ: phiên âm tiếng Pháp, nghĩa là bắn bỏ, TLý), mà chỉ bị dứt nhiệm vụ đại sứ thôi. 
Trong suốt một thời gian kéo dài từ tháng 5 năm 1963 cho đến tháng 11 cùng năm đó, tràn đầy máu lửa và nước mắt, tàn sát Phật tử không khác gì phát xít Đức tàn sát người Do Thái trong thế chiến thứ nhì, không có một tờ báo chánh thức nào dám ho he một lời can ngăn - chớ đừng nói cảnh cáo hay đả kích – Ngô Đình Diệm và gia đình ông ta. Được lịnh của cố vấn Ngô Đình Nhu, Tổng giám đốc Thông Tin mỗi ngày ra một chỉ thị cho các báo. Báo nào báo nấy theo răm rắp, nhưng cũng chưa yên; đến lúc đưa kiểm duyệt, lại thay đổi ý kiến, có tin cấm lại cho ra, có tin không nói đến, tới giờ cuối cùng lại cấm. Báo nào báo nấy cứ điên lên, không biết phải làm ăn ra thế nào.
Lúc ấy, tôi là tổng thư ký của nhựt báo “Báo Mới” do Huỳnh Tấn Phẩm đứng ra làm, mà măng xét thì của Văn Giang. Lúc chưa ra, báo này nhắm làm việc về ấp chiến lược, mở một mục đặc biệt về ấp, vì Nhu cho đó là quốc sách, bao nhiêu tiền đổ dồn cả về việc xây dựng ấp. Tiền tái thiết dinh Độc Lập thu được 19 triệu, thì bỏ vào ấp chiến lược 10 triệu, quỹ chống Cộng thu được 30 triệu, đem dùng hết cả vào việc ấp. Dù đã được chỉ thị riêng rồi, “Báo Mới” cũng bị xoá lện xoá xuống vì những tin Phật Giáo, nói xấu chính phủ không được mà nói tốt cũng không được nữa. Rút cục, người làm báo phải tự hỏi không biết nhà Ngô muốn gì, muốn sống hay muốn tự tử.
Lập ra ủy ban liên bộ, ủy ban liên phái, ra thông cáo chung, cấm đăng ;
Thượng toạ Thích Thiện Minh gửi thư cho Ngô Đình Diệm vì thông cáo chung chưa được thi hành, cấm đăng;
Nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam uống thuốc ngủ tự tử để phản đối chính sách độc tài, đàn áp Phật Giáo của Ngô Đình Diệm, cấm đăng;
Tăng ni và Phật tử biểu tình ở trước nhà đại sứ Hoa Kỳ, trước chùa Giác Minh, bị đánh đập tàn nhẫn, bị bắn, bị giết, bị giam, lại có nơi bị xe tăng nghiền nát ra, cấm đăng;
Ni cô Diệu Quang, đại đức Thích Tiêu Diêu, Thích Quảng Hương, Thích Thanh Tuệ và hàng trăm đaị đức, ni cô khác tự thiêu hoặc bị đâm, chém, bắt cóc mang đi mất xáccấm đăng.
Về sau, thông bạch của nhà chùa gửi đến báo (đăng trả tiền) mời Phật tử đến chùa lễ Phật, kiểm duyệt cũng bắt phải bỏ;
Ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu xuống tóc, bỏ;
Phái đoàn tăng ni và báo giới tới thăm Hoà Thượng Thích Tịnh Khiết, bỏ;
Sinh viên, học sinh biểu tình ở chợ Bến Thành, Quách Thị Trang bị bắn nát đầu, 1300 nguời bị trói giật cánh khuỷu, đưa xuống trại huấn luyện Quang Trung, bỏ luôn.
Có tin ở ngoài phố Ngô Đình Nhu muốn điên, chích nha phiến trắng cả ngày đêm trong khi vợ gia công gia sức hiệu triệu Phụ Nữ Bán Quân Sự khoá III và lên án những vụ tranh đấu về tôn giáo: báo chí tuyệt đối không được nói tới, kể gì những tin mà dân chúng ai cũng nói tới như: ảnh Ngô Đình Diệm bị tháo gỡ ở vài nơi công sở và thay bằng ảnh cố vấn Tổng lãnh tụ Thanh Niên Cộng Hoà: Nhu sắp đảo chính, lên cầm quyền để thi hành một chánh sách độc tài đanh thép hơn; bà Nhu tới La Mã bị nhiều người đón đường phản đối, qua Ba Lê bị ném trứng thối vào đầu, qua Hoa Kỳ diễn thuyết phủ nhận sự đàn áp Phật Giáo, không được Tổng thống Kennedy tiếp kiến. Trần Văn Chương công kích chính sách Ngô Đình Diệm; Diệm Nhu tung tin sẽ phá toà đại sứ Mỹ, ám sát nhân viên ngoại giao Mỹ và cả đại sứ Cabot Lodge.
Tất cả những tin tức liên quan đến vấn đề tàn sát Phật tử, đàn áp Phật Giáo, kể cả những mánh lới bỉ ổi mà vợ chồng Nhu đưa ra để “mua” phái đoàn điều tra về vụ Phật Giáo do Liên Hiệp Quốc cử sang (chụp ảnh thành viên của phái đoàn LHQ. mua dâm ở Sài Gòn,để khống chế, T Lý), nhà báo có thể đem ra viết mười năm không hết, khả dĩ làm cho thế giới biết suy nghĩ phải khóc ròng trước những khổ aỉ đắng cay của dân tộc Việt Nam, nhưng rút cục không có một tờ báo chính thức nào dám viết, vì Nhu, Diệm và tất cả các tay sai của họ lúc nào cũng sẵn sàng cho nhà báo phản đối xuống hầm kín hay bắn một phát vào đầu, cán xe hơi, bịt mắt đem đi rồi đâm hàng trăm nhát, chất thành một đống, cho xuống bè thả ra sông.  Nhưng…
Xã hội ta lúc đó y như thể nước đại dương: bên trên thì êm ả, nhưng sóng ngầm bủa giăng ở dưới. Trong khi dân chúng rên siết trong máu lửa và nước mắt: trong khi bọn Nhu Diệm giết hết, đốt hết những cái gì liên quan đến Phật Giáo; trong khi bọn tay sai của Nhu Diệm thưà nước đục thả câu, ăn cướp công khai cả vật chất lẫn tinh thần người dân, thì chính ở bên trong các báo chính thức xuất bản, và cả ở ngoài làng báo, một số lớn bọn người “nói láo ăn tiền” vẫn bí mật hoạt động chống Nhu Diệm và kết hợp các từng lớp nhân dân để chờ một ngày quyết định. Mà khí giới của họ vẫn là ngòi bút! Ngòi bút cùn, nhưng có tác động vô song là động viên được tinh thần bất khuất của người Việt Nam đúng giờ, đúng khắc thì vươn lên, không sợ chết, không sợ gian khổ, không sợ võ khí tối tân và khoa học nhất.
Hoà mình với Phật tử, sinh viên, học sinh, các người “nói láo ăn tiền” đó không uống uýt ky nhưng uống nước lạnh, không ở nhà lầu nhưng chui vào những ổ chuột, không ăn đồ ăn Pháp nhưng ăn cơm nguội, muối mè và nhiều khi nhịn đói để làm báo lậu, những truyền đơn, những cuốn sách bỏ túi để phát đi trong quảng đại quần chúng, hô hào dân chúng nổi lên chống độc tài , áp bức, tranh thủ tự do, dân chủ thực sự.  Ông lái buôn no đủ , ông bộ trưởng, giám đốc thừa tiêu, ông tích trữ đầu cơ, có mèo chó, vợ con phè phỡn, một hôm, tư nhiên thấy người làm bưu điện gửi tới một bao thư: giở ra coi thì là báo lậu. Có khi báo lậu, truyền đơn, sách bỏ túi, chui qua kẽ cửa vào trong nhà cô nữ sinh; có khi ông công chức đến sở vừa mở hộc bàn ra để lấy sổ sách ra làm việc thì đã thấy lù lù một tập, lại cũng có khi nhận hàng ở máy bay về, mở hộp ra thì đã có một đống truyền đơn báo lậu. Mật vụ Dương Văn Hiếu, quả đã trải một thời gian điêu đứng, bắt “phiến loạn” không thể nào xuể: chưa xong bọn này đã đến bọn kia thoá mạ và kêu gọi lật Ngô Đình Diệm để mau chấm dứt Phật nạn và chận đứng cuộc tàn sát dã man, vô đạo.
...
Hiện giờ, chưa ai biết rõ là phe quân nhân cách mạng nổi lên đảo chánh Ngô Đình Diệm lần thứ ba có nghiên cứu về tâm lý của người dân trước khi tiến đánh dinh Độc lập hay không, nhưng có một điều chắc chắn là tình thế lúc đó đã chín mùì dân chúng đã thấy cách gì cũng phải hạ ngay Ngô Đình Diệm. Phe cách mạng được dân chúng ủng hộ và làm hậu thuẫn nên đã thành công rực rỡ; nhưng sửa soạn được tâm lý quần chúng như thế, muốn nói gì thì nói, muốn bài bác thế nào thì bài bác, ai cũng phải nhận rằng báo chí đã tiền phong trong công việc chuẩn bị cách mạng, triệt hạ Ngô gia để mở đầu cho một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên tự do, dân chủ - dù lúc đầu chỉ là một thứ tự do, dân chủ đi tập tà tập tễnh.
Như trên kia đã nói, báo lậu không ngớt kêu gọi dân chúng nổi lên chống Diệm. Cuối năm 1963, lúc nào xe thiết giáp cũng nằm ụ trước dinh Độc Lập và Gia Long, đề phòng các cuộc biểu tình. Ngô Đình Diệm, vừa tiễn Đô đốc Harry D. Felt, tổng tư lệnh tại Thái Bình Dương, được một lát, chưa kịp ăn cơm, thì tiếng súng nổ ran ở nhiều nơi trong Đô Thành. Quân đội rầm rộ chiếm đóng Tổng Nha Cảnh Sát, đài Phát thanh, nha Truyền Tin, bộ Nội Vụ… Các lực lượng tấn công gồm một đội pháo binh 105, tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến, các đội khác chuyển từ Biên Hoà, Thủ Đức, Long An, Bình Dương. Sẩm tối hôm ấy, quân cách mạng tấn công mạnh vào thành Cộng Hoà: nhiều sinh viên Phật Tử được phóng thích. Lệnh giới nghiêm được ban hành trên toàn quốc. Hôm sau, dinh Gia Long bị chiếm; có tin Nhu Diệm tự tử, nhưng thực ra thì họ trốn về nhà thờ Cha Tam ở Chợ lớn và buổi trưa hôm ấy, có tin Nhu Diệm đã bị hạ sát thê thảm trong chiếc xe bít bùng từ nhà thờ Cha Tam về Saigon.
Người ta muốn biết ai đã giết Diệm Nhu, nhưng không ai biết đích xác; dù sao Diệm Nhu chết đi thì đại đa số dân chúng cũng mừng. Có người tế con heo; có người lập bàn thờ cảm tạ trời đất; còn thì hầu hết nhà nào cũng làm tiệc, rủ bè bạn, thân thích đến để nhậu nhẹt cho “phỉ chí tang bồng”.
Một vài tờ báo nổi tiếng trung thành với Nhu Diệm, hay làm tay sai cho “con khỉ đột” Lê Quang Tung, chỉ huy Lực Lượng Đặc Biệt, tự động đóng cửa; chủ nhiệm, quản lý, chủ bút, trốn luôn; còn đa số bị bịt mắt, bưng miệng lâu ngày, bây giờ tha hồ nói hươu, nói vượn, chạy theo Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng và chánh phủ lâm thời, và đá những “cú hậu” rất hăng vào hai cái xác chết thối ra là xác Nhu và Diệm.
...
Không thoát được công lệ lúc đó để làm cho báo chạy, báo “Dân Chúng” cũng có những bài to tổ bố chửi chế độ Ngô gia và đánh đập ra rít bọn mật vụ của chế độ cũ như Dương Văn Hiếu, Lê Quang Tung, Cao Xuân Vỹ, … Một phần các tài liệu dùng để viết rút tỉa ở cuốn “Nhật ký” của Ngô Đình Lệ Thủy (con gái đầu lòng của ông bà Ngô Đình Nhu), đã lượm được trong lúc đánh phá dinh Độc Lập, trong đó có nhiều sự việc mà người ngoài không biết, đại khái vụ vợ chồng Ngô Đình Nhu lên nghỉ ở Ban Mê Thuộc bàn về việc làm “săng ta” Mỹ; vụ mụ Nhu cáo đau bụng, bắt con gái đi dự tiệc “làm quen” với đại sứ Nolting; vụ “mua chuộc” phái đoàn điều tra về Phật Giáo do Liên Hiệp Quốc cử sang liên quan tới Phụ Nữ Liên Đới và Phụ Nữ Bán Quân Sự ra sao; vụ Ngô Đình Lệ Thủy thi tú tài trong đó có sự xếp đặt, bợ đỡ của các giám khảo như thế nào … Tất cả những tài liệu đó, do chính tay Ngô Đình Lệ Thủy ghi lại trong một cuốn nhật ký dầy, “Dân Chúng” đem ra khai thác. Đến vụ Ngô Đình Lệ Thủy thi tú tài, chúng tôi kêu đích danh một người vẫn tự nhận là quốc gia chính cống (có khi lại tự nhận là đệ tứ) làm giáo sư đại học, đặt thành vấn đề chất vấn, thì viên giáo sư ấy không trả lời, …
… nhiều người tuyên bố liên hiệp với MTGPMN (Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam) là tự sát, không bao giờ nhìn nhận Mặt trận là một tổ chức hợp pháp, nhưng rồi cũng mật đàm với Mặt trận; thiếu tướng Kỳ thề không bao giờ ngồi chung một bàn với Cộng sản nhưng rồi cũng cùng họp bàn tròn ở hội nghị Ba Lê; bất cứ ai nói chuyện hoà bình cũng bị kể như là thân cộng và cần bắt nhốt hoặc đưa sang bên kia vĩ tuyến, nhưng rồi, theo tờ báo chính thức của Công-giáo ở La-Mã đầu năm 1968, tờ Observatore Romano, Toà thánh dự định gửi một phái đoàn qua Hà-nội vận động hoà bình, trong khi Dean Rusk tuyên bố sẵn sàng nói chuyện hoà bình với Bắc Việt, nếu Cộng sản ngưng tấn công thủy quân lục chiến Hoa Kỳ.  
  --------------   



Thứ Hai, 27 tháng 10, 2014

Chân tướng Trần Đĩnh qua Đèn Cù (kỳ 4 - Tiếp và hết)


Kỳ 4: Những chiếc mặt nạ của Trần Đĩnh (phần 2 và hết)
1. “Con dê tế thần” hay con thú cưng (Pet)?
2. Trần Đĩnh “cộng sản đích thực, yêu hòa bình”?
---------
3. Thế còn “người phản chiến” Trần Đĩnh?
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mà chính ông là một thành viên tham gia trực tiếp với vai trò "phóng viên chiến tranh", Trần Đĩnh thừa biết, ở miền Bắc hoàn toàn không có phong trào cũng như không có cá nhân “phản chiến” - như ở Mỹ.
Xin nhắc lại: không có “phản chiến”. Chỉ có “đào ngũ”, tức là trốn chiến đấu, và cũng là trốn nhà luôn, vì về nhà cũng vẫn phải trốn, trước hết là vì xấu hổ. Xấu hổ lắm, với cha mẹ, với anh em, với hàng xóm và với chính mình...
Tuy vậy, trong Đèn Cù, ông Trần Đĩnh bệ ngay hai chữ “phản chiến” về và tự dán lên ngực. Ông rất muốn được gọi là người “phản chiến”, vì nếu được gọi là “phản chiến”, thì nghĩa là ông “xót cho cả máu Mỹ”, nhờ đó mà ông được gặp một tham tán văn hoá đại sứ quán Mỹ" " Sau đó giới thiệu nhà báo Mỹ gặp phỏng vấn”, như ông khoe:
Chương 48: “Chắc thấy chúng tôi phản chiến là xót cho cả máu Mỹ - chứ không nghĩ chúng tôi là tay sai của Liên Xô, kẻ thù số một của Mỹ, một buổi sáng tháng chín gì đó năm 1998, một tham tán văn hoá đại sứ quán Mỹ - tức chính quyền Mỹ - đã lần đầu tiên thanh thiên bạch nhật tại trung tâm Hà Nội bất ngờ đến bắt tay một chàng xét lại Việt Nam - chàng ấy là tôi: “Chúng tôi biết ông là thế nào nhưng không tiện gặp, chắc ông hiểu…”. Sau đó giới thiệu nhà báo Mỹ gặp phỏng vấn”.

Cái sự “xót cho cả máu Mỹ” là ông Trần Đĩnh mới “vơ vào” gần đây thôi, chứ nói đến người thực sự “xót máu Mỹ”, thì phải nói đến người Mỹ trước hết và họ phản chiến từ những năm 1960.
Hãy thử so sánh một chút:

+ Ở Mỹ, tổng cộng có hơn 200 tổ chức chống chiến tranh Việt Nam ở trên khắp các bang, 16 triệu trong số 27 triệu thanh niên Mỹ đến tuổi quân dịch đã chống lệnh quân dịch, 2 triệu người Mỹ “gây thiệt hại bất hợp pháp” vì chống chiến tranh xâm lược Việt Nam, 75.000 người Mỹ bỏ ra nước ngoài vì không chịu nhập ngũ và đấu tranh chống chiến tranh xâm lược.
+ Ở Việt Nam, chả có một mống nào khác, ngoài ông Trần Đĩnh.
California, 1965
Washington, D.C. (1967)
Ngày 15/11/1969, hơn 50.000 người Mỹ xuống đường phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam trước tòa nhà Quốc hội. Một cựu binh đang ném quân phục và huân chương qua hàng rào.
+ Ở Mỹ, vì “xót máu Mỹ”, mà Norman Morrison đã tự thiêu ngay trước Lầu Năm góc ở thủ đô Washington để phản đối chiến tranh Việt Nam (1965), cũng vì “xót máu Mỹ” mà cả Bill Clinton và John Kerry chống lệnh quân dịch và tham gia biểu tình phản đối chiến tranh.
Khi John Kerry "phản chiến", điều trần trước Quốc hội Mỹ thì Trần Đĩnh vẫn còn mê mẩn với hào quang "Bất Khuất"
+ Ở Việt Nam, Trần Đĩnh hoàn toàn chẳng có một hành vi nào để có thể gọi là "phản chiến". Ngược lại là đằng khác, khi hàng vạn người dân Mỹ xuống đường phản đối chiến tranh xâm lược Việt Nam và đánh nhau với cảnh sát thì Trần Đĩnh "suốt 1966, tôi bận với Bất Khuất". (chương 26).

Thử hỏi liệu có thuyết phục được ai rằng: vì "xót cho máu người Việt" và “xót cho cả máu Mỹ” mà Trần Đĩnh chấp bút viết cuốn hồi ký “Bất Khuất” hay không?
Thực ra, với cái nhãn “phản chiến” tự dán lên ngực, ông Trần Đĩnh không thể lừa được người Mỹ, và ngay cả đám Cờ Vàng chống cộng, ông cũng không lừa nổi. Nhưng họ giả điếc, giả mù và giả ngu, khi có cơ hội lợi dụng được Trần Đĩnh vào mục đích “hạ bệ thần tượng” cộng sản Việt Nam của họ mà thôi. Đây là điều Trần Đĩnh dù thích hay không cũng phải đưa vào Đèn Cù, nếu muốn xuất bản và đong xèng tại cái lò từng đúc ra những “Bên thắng cuộc” và “Thằng hèn”.
Nói gì thì nói, muốn được coi là người “phản chiến” trước mặt đám Cờ vàng chống cộng, Trần Đĩnh phải giải thích về Bất Khuất, cuốn sách đã được in đến 210.000 cuốn và dịch ra 5 ngôn ngữ khác và đem lại “vinh quang” cho ông. Mặc dù, ông bảo ông khiêm tốn “giấu tên” khi viết Bất Khuất, nhưng có vẻ như ông lại cố tình "chường mặt" ra, trên vỉa hè, vì trong Đèn Cù, ông khoe, : Viết Bất Khuất tôi đã được hưởng không khí ca ngợi đặc biệt. Tôi đi đường vẫn thấy người ở trên hè thân thiện chỉ vào tôi cười nói gì với nhau. Kiểu như phụ nữ chân dài, vòng một khủng bây giờ” (chương 25).
Bất Khuất viết những gì, đây là lời giới thiệu tác phẩm:
“Theo dõi bước chân Nguyễn Đức Thuận trên từng trang, từng trang "Bất Khuất", người đọc nhiều lúc nín thở, hồi hộp, xúc động đến trào nước mắt, trái tim căng lên, sôi sục máu căm thù. Tác giả dẫn chúng ta đi theo anh trên con đường đầy đau thương, khổ ải, trong hơn ba ngàn ngày, trải qua những lò giết người cực kỳ man rợ, man rợ hơn cả bọn đao phủ thời Trung cổ, hơn cả bọn phát xít Hítle.
Từ Pêcarăngđơ, nhà lao Gia Định, trung tâm Thủ Đức, Tổng pha đến Côn Đảo, sa vào những chuồng cọp, địa ngục trần gian đầy rẫy ác ôn quỷ dữ là tập đoàn đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai mổ bụng ăn gan, uống máu người không biết tanh, Nguyễn Đức Thuận cũng với biết bao chiến sĩ cộng sản kiên cường, biết bao người Việt Nam yêu nước, đã đối mặt với quân thù, chống chào cờ ba que, chống học tập "tố cộng", chống "ly khai" tới cùng. Tám năm trời đằng đẵng, ba ngàn ngày mà mỗi phút, mỗi giây, mạng người bị treo bằng một sợi tóc mong manh, chơi vơi trên một vực thẳm kinh hồn. Hơn một ngàn đồng bào đồng chí chúng ta đã hy sinh. Nhưng Nguyễn Đức Thuận và những con người kiên cường như anh vẫn đứng vững trong chồng cọp, đánh bại lũ diêm vương quỷ sứ, đẩy lùi bàn tay thần chết, bắt lũ chúng phải quỳ lạy dưới chân mình.
Mỗi trang "Bất khuất"  là một trang thấm máu và nước mắt, tràn đầy một sức sống mãnh liệt, vang lên tiếng hát yêu đời, yêu cuộc sống, yêu con người, vang lên bài ca chiến thắng không bao giờ tắt. Với trên bốn trăm trang hồi ký, Nguyễn Đức Thuận đã phản ánh sâu sắc cuộc sống anh hùng với tinh thần cách mạng tiến công của những con người có thực, vạch trần hiện thực đen tối trong những địa ngục của xã hội miền Nam dưới gót sắt của một lũ sói lang mặt người dạ thú. "Bất Khuất" toả ra một niềm tin bất diệt vào sự nghiệp cách mạng, vào lý tưởng cộng sản chủ nghĩa giải phóng con người, nêu cao phẩm giá của những con người nhận thức được quy luật và chân giá trị cuộc sống, biết sống và biết chết xứng đáng là Người”.
Chính ông Trần Đĩnh cũng cho biết, trong chương 25, cuốn Bất Khuất được “in rất nhiều và bắt thanh niên cùng quân đội cả nước học tập rộng rãi nữa... mua cho quân đội 160.000 quyển trong tổng số phát hành 210.000”.
Lạ chưa, Trần Đĩnh là người “phản chiến” mà “tác phẩm” có thể nói là duy nhất đem lại hào quang cho ông, (trước những Lê Văn Lương, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ...), lại được “thanh niên cùng quân đội cả nước học tập rộng rãi, riêng quân đội mua tới 160.000 cuốn”. Học tập cái gì, Bất Khuất dạy họ “chống chiến tranh” ư?
Không hề, vì chính ông Trần Đĩnh đã trả lời câu hỏi:“Đảng đang chuẩn bị đánh Mỹ ở cả nước, cần ra Bất Khuất rồi phát động thanh niên, quân đội học tập để đề cao tinh thần hy sinh, chịu đựng gian khổ, hăng hái lên đường vào chiến trường”.(Chương 25).

Như vậy, chẳng làm gì có một Trần Đĩnh “phản chiến”. Sự thực là chỉ có một Trần Đĩnh vì hèn nhát mà thành “xét lại”. Ban đầu ông theo đuôi chính sách nước ngoài “chủ hòa” và sau đó, khi chính sách này thay đổi, năm 1965-1966, thì ông lại đổi màu thành “chủ chiến”. Điều này ông không thể chối cãi được vì nó thể hiện quá rõ qua việc ông chấp bút tác phẩm Bất Khuất. 
Nhưng vì phải "làm lễ ra mắt" các bác chống Cộng Cờ vàng hải ngoại, Trần Đĩnh đành "chạy tội" bằng cách "thanh minh", và không quên “báo công” rằng cuốn này (Bất Khuất) tuyệt không hề  chửi  "thày" các bác (vẫn chương 25):
“Thanh minh vì đó là sự thật. Và nay ở đây, tôi cũng muốn phơi trần ra một sự thật nữa tôi dần dà thấy: Tôi bồi bút thực thụ. Bồi bút nên biết là sai vẫn nghe theo! Thà nhận dốt khoa học còn hơn”.
“Viết Bất Khuất, tôi không một lời chửi Mỹ, trong khi đặc trưng của văn học cách mạng là phải tìm mọi dịp lên án nó, thằng đế quốc kẻ thù của loài người và nhân dân Việt Nam”.
Một điều cần nói nữa: 1965, viết Bất Khuất tôi ngỡ lên án việc đày đoạ con người.Thì hai năm sau nổ vụ án xét lại và tôi là nạn nhân.
Và tôi bắt đầu lờ mờ nhận thấy ngoài bồi bút, tôi mang hai bộ mặt lệch nhau: om xòm ở tư cách kẻ lên án và câm nín với vai tội phạm bị đàn áp man rợ của chính bản thân.
Cái chỗ tự nhận "Tôi bồi bút thực thụ", là Trần Đĩnh học chiêu của đàn anh là nhạc sĩ Thằng Hèn, cốt để vừa kiếm được xèng lại vừa tránh việc mấy anh Cờ Vàng sớm nắng chiều mưa, khi biết ông là người chấp bút Bất Khuất sẽ chỉ mặt chửi ông là "văn nô Cộng sản khát máu". Đã công khai tự nhận là "thằng hèn", thằng "bồi bút thực thụ" rồi, thì có chửi mấy cũng như "nước đổ lá môn". Vâng, thì đã bảo "tôi là một thằng hèn", tôi "bồi bút thực thụ" rồi mà, được chưa?

Nhưng đọc những lời thanh minh và sám hối của ông, nhất là chỗ tôi không một lời chửi Mỹ” và chỗ “xót cho cả máu Mỹ” tôi cứ thấy tồi tội cho ông Trần Đĩnh (chợt nhớ ra hai chữ “tồi tội” này là của bác Hòa Bình). Xưa “chửi” nhau, thậm chí “uýnh” nhau vì là kẻ thù, nay “chào” nhau, kể cả "bắt tay chính quyền Mỹ" đi nữa thì cũng vì đã "làm bạn". Chuyện bình thường thôi mà, đến nguyên thủ quốc gia hai bên cũng đều vậy cả, Trần Đĩnh thân phận “bồi bút”, việc quái gì mà “ngượng”, mà phải kể lể “báo công lục súc”, xin các ông các bà “xét lại” cho tôi... theo cái kiểu hèn mạt như thế?
Hồi nhỏ, Lý tôi cứ Giôn với Ních mà đặt tên cho chó, nay vẫn lỳ, chưa chịu đấm ngực sám hối. (Ghi chú thêm: ảnh chụp lại này thiếu mất quả bom vẽ mặt Nixon ở phía trên )
Có thể nói, ngoài "thành tích" viết Bất Khuất mà không một lời chửi Mỹ” ra thì Trần Đĩnh không hề có một hành vi hay thái độ nào để có thể gọi là "phản chiến" như những Norman Morrison hay Bill Clinton hay John Kerry hoặc như bất kỳ người Mỹ phản chiến nào khác đã hành động hoặc bày tỏ thái độ. 

Vì không hề có một hành vi "phản chiến" nào cả, cho nên thực chất Trần Đĩnh không thể là người "phản chiến". Ông chỉ là một thằng "đào ngũ", không hơn không kém. Điều tôi thắc mắc là, tại sao Trần Đĩnh lại chỉ "vơ vào" có một mình như vậy? Sao không rủ rê thêm một vài bác lính ta đã trót đào ngũ năm xưa và thêm một đống những bác lính Cộng hòa đã từng tan hàng rã ngũ, cùng nhau ra khai báo, nhận "thành tích phản chiến", có phải là đã thành một "phong trào phản chiến" hai miền do Trần Đĩnh đứng đầu?.
4. Một Trần Đĩnh “bất khuất”?
Với việc viết Bất Khuất, trước mặt giới Cờ vàng chống Cộng Hải ngoại, Trần Đĩnh mặc dù đã có thanh minh thanh nga: thứ nhất khi ấy "tôi bồi bút thực thụ", thứ hai là trong Bất Khuất, "không một lời chửi Mỹ", nhưng rồi sau thì cũng phải rạp mình nhận đã "khích động chiến tranh". 

Ấy thế mà khi có người ở trong nước gọi Trần Đĩnh là “phóng viên chiến tranh”, ông không chịu, ông bảo ông “chỉ bất khuất” (ở trên vừa mới "bồi bút thực sự", ở dưới đã lại thành "bất khuất"! Lạ chưa?):
Chương 37: Ba chục năm sau, tháng 3 - 2006, ở hội nghị báo Nhân Dân - gồm cả các Tổng biên tập đã về hưu như Hoàng Tùng, Hồng Hà… - kỷ niệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, khi người ta giới thiệu tôi là “phóng viên chiến tranh”, tôi đứng lên nói rành từng tiếng:
-Tôi không chiến tranh, tôi chỉ bất khuất.
Tôi nhìn mặt các quan chức đồ sộ. Không một phản ứng.
Sự thật của tôi được chấp nhận. Đây không phải Bất Khuất của Nguyễn Đức Thuận mà là bất khuất viết thường của Trần Đĩnh. Trong khi không ít anh em đang làm việc vỗ tay hoan hô… Tôi có thể kể tên ra."
Thế Trần Đĩnh có “bất khuất” không? Bất khuất với ai? 

Đèn Cù lại cho ta biết:
Chương 32: “Cái hòm tôn hôm nay khiêng lên xe nặng quá. Thì mỗi người bạn một biên bản khai cung vài chục trang còn gì?”
Hóa ra Trần Đĩnh không chỉ viết báo, viết văn, viết thơ mà ông còn viết một thể loại rất nặng ký lô là “biên bản khai cung”, mỗi người bạn ông được ông ưu ái cho “vài chục trang”. Hãy thử so sánh với cuốn Bất Khuất lừng danh chỉ dày khoảng 400 trang, thì ta sẽ thấy ngay “Khai Cung” mới chính thật là tác phẩm “đồ sộ” nhất của Trần Đĩnh, nghĩa đen.
Đã vậy, Trần Đĩnh còn hăng hái và bất nhất trong việc khai cung, khai cung "vượt chỉ tiêu", tệ hơn, còn vẽ (bịa) ra cả sơ đồ tổ chức. Đương nhiên như thế thì nghĩa là có chuyện tố cáo láo, làm liên lụy đến “bạn bè”, đến người khác:
Chương 31: Nhưng nhiều khi bị vặn hỏi về hoạt động gián điệp của anh em, (“Anh đến Phạm Viết thấy trà uống nhiều thế mà không lạ ư? Liên Xô cho mới nhiều thế chứ!”) tôi không thể không sửng sốt. Nhưng tôi đã nói: “Nếu biết tiếng Nga thì tôi cũng làm gián điệp. Để làm gì à? Để cho bên ngoài biết thực trạng mà giúp ta thoát khỏi kìm kẹp của Mao”.
Người ta bảo vẽ sơ đồ tổ chức. Tôi vẽ. Hôm sau, Tuấn xem và nói thôi.
Chương 41: Các anh có lúc khai có tổ chức, có chống đảng. Cuối cùng vì sao tôi dám làm đơn gửi Bộ chính trị kết luận các anh vô tội? Chính là nhờ có cái chỗ dựa pháp lý vững như núi này của các anh. Đó là các anh đều phản cung hoặc khai mâu thuẫn lại với mình cả.
Trong Đèn Cù, Trần Đĩnh kể lại việc khai cung của mình khá là “nhàn nhã” so với các “bạn bè” cùng trong nhóm “xét lại chống Đảng”, thậm chí trong quá trình khai cung ông còn được đích thân Lê Đức Thọ gọi lên hỏi chuyện. Ông Nguyễn Đức Thuận thì “Bất Khuất” là phải, vì suốt 8 năm lao tù bị tra tấn bằng mọi cực hình tàn bạo mà vẫn không chiụ khuất phục, từ việc nhỏ tới việc lớn đều giữ trọn phẩm tiết và lý tưởng. Thế còn Trần Đĩnh thì “chưa đánh đã khai”, thực chất là mới chỉ uống trà đã khai, mà lại khai cả dây, khai "vượt chỉ tiêu", khai oan cả cho người vô tội. Thế mà lại vỗ ngực Tôi không chiến tranh, tôi chỉ bất khuất”cho dù đó chỉ “là bất khuất viết thường của Trần Đĩnh”thì thấy thật là mỉa mai cho nhân cách của ông. Bất khuất cái gì? Bất nhất và khuất tất thì có. Hay đây là lúc ông " sáng tạo ngôn ngữ", (như Ngô Nhân Dụng đã khen), bằng cách viết tắt mấy chữ "bất nhất" và "khuất tất" thành "bất - khuất"?.
Này anh Sâm, đây là bài viết nghiêm túc, không phải chỗ để anh cười phọt dắm ra đâu nhá!
Đến đây thì “bạn bè” cũ và mới của ông hẳn đã rõ, vì sao cùng tham gia “xét lại chống Đảng” mà kẻ thì “đi tù triền miên”, còn người thì lại được Sáu Búa (Lê Đức Thọ) gọi lên cho ăn kẹo, “bảo kê” cho khỏi đi tù, rồi còn “cầu cạnh” (!) mời chấp bút hồi ký, rồi suýt nữa lại được theo đoàn đàm phán đi Paris. Mà nếu được đi Paris, thì Trần Đĩnh bây giờ chắc hẳn sẽ còn "sáng tác" ra cả Đèn Trời nữa chứ không phải chỉ cái thứ đèn tù mù ma trơi này.

5. Một Trần Đĩnh không “xét lại chống Đảng”?
Và cuối cùng, thì cái tội “tham gia nhóm xét lại chống Đảng” của Trần Đĩnh là có “oan” hay không? Tất nhiên, theo ông là “oan”, vì ông kể chính những người kết tội ông năm xưa, sau này lại đề nghị minh “oan” cho ông.
Có voi đòi tiên, tiện dịp, ông không những không chịu nhận tiếng “xét lại” mà còn muốn “thiên hạ” “xét lại” cho ông được nhờ, rằng ông là “phản chiến”. Về chuyện Trần Đĩnh "phản - chủ", (bắt chước Trần Đĩnh "bất khuất" tôi gọi tắt "phản chiến - chủ chiến thành “phản – chủ” cho gọn), thì như tôi đã trình bày ở trên, không phải nói lại ở đây nữa.
Nhưng còn chuyện “xét lại”.
“Xét lại” là gì? Đó là những quan điểm lí luận chính trị "xét lại" những luận điểm của K. Marx và F.Engels về cương lĩnh, chiến lược và sách lược cách mạng... cho là nó không còn phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn trên thế giới và trong các điều kiện hiện có trong nước”. 
Trong Đèn Cù, Trần Đĩnh bày tỏ quan điểm công khai về cuộc chiến tranh Giải phóng miền Nam theo chủ trương “chung sống hòa bình” của Khrushchev, tức là không muốn phát động chiến tranh vũ trang giải phóng miền Nam, trái với quan điểm dùng bạo lực lập chuyên chính vô sản trên toàn thế giới của Mác và Lê-nin  đó thôi, không gọi là “xét lại” thì gọi là gì? Hay ông thích được gọi là “phản quốc” hơn, nếu xét trên quan điểm đi ngược lại ý chí của dân tộc?

Thực ra hai cái chữ “xét lại” của thời ấy nghĩa của nó chẳng khác gì mấy chữ “thoái hóa, biến chất” bây giờ. Cũng chẳng có gì là ghê gớm lắm.

 A lúi! Nhân vụ Trần Đĩnh đòi "xét lại" cái sự "xét lại", mới nhớ ra: các cụ Ích Tắc và Chiêu Thống không những đã từng "phản chiến" mà còn "có công" "rước" về "những nền văn minh của nhân loại" cơ đấy. 
Thế còn ông Trần Đĩnh có “chống Đảng” không? Đèn Cù cho thấy là có.
Trong bản khai cung ông Trần Đĩnh đã tự nhận ở là có tổ chức, có chống Đảng” tuy nhiên, sau này ông lại “phản cung” (chương 41).
Tạm chấp nhận là khi “khai cung” thì Trần Đĩnh có thể bị những áp lực nào đó: quyền lợi, gia đình, cơ quan, xã hội hay thậm chí cả về mặt tổ chức, thì thôi, ông khai có tổ chức, có chống Đảng” là khai tầm bậy.    
Nhưng, trước khi có chuyện “khai cung” vào năm 1967-1968, tức là khi không phải chịu một “sức ép” nào cả, thì ông Trần Đĩnh cũng đã “chống Đảng”.
Thực tế ông Trần Đĩnh “chống Đảng” sớm hơn, từ năm 1961 kia, như ở chương 24 ông "khoe": Về nước mới hai năm tôi sa ngay vào hãm địa tối tăm nhất không lối thoát: phần tử trong tổ chức chống đảng, lật đổ, tay sai nước ngoài. Nhưng không hiểu sao tôi vẫn thấy le lói trong mình một ánh sáng của riêng tôi nó làm cho tôi đứng vững được”.
Thậm chí tư tưởng chống Đảng đến với Trần Đĩnh còn sớm hơn nữa, ngay từ khi ông được cử sang học tại Bắc Kinh năm 1955 - 1959, như ông hé lộ ở chương 37: “Ở Bắc Kinh đọc Nietzsche, tôi mới biết ý thức hệ là ma tuý, và chúa gây lắc là ý thức hệ cộng sản”.
Thế mà sau này ông “phản cung” rằng không chống Đảng, thì cái “phản cung” ấy cũng lại “ba xạo” nốt, ít nhất là đối với cá nhân ông, trước lương tâm ông. Trần Đĩnh ơi là Trần Đĩnh, làm sao biết lúc nào ông nói thật, lúc nào nói khoác đây.
Bực dọc thì nói thế thôi, chứ đọc đoạn dưới đây, thì ta biết thực ra ông Trần Đĩnh lại rất "yêu" Đảng và ngược lại, ông cũng đã được Đảng "quá yêu". Bằng chứng là mãi đến năm 1976 ông mới bị khai trừ. Vì “yêu” và “được quá yêu” nên khi bị khai trừ thì ông “tiếc”Mà ông “tiếc”cái quái gì, cứ xem đoạn sau sẽ rõ:
Trích chương 39: Trên kia tôi nói tôi dửng dưng, tênh tênh khi bị khai trừ. Đúng! Nhưng không phải không có lúc suy sụp. Vì tự ái, xấu hổ. Rồi vì tiếc những ngày tháng đã “chiến đấu” Trên dưới ngọn cờ đỏ. Rồi còn cả một chút tình ý bị mất quyền lợi.
Ít nhất sẽ không còn được nghe truyền đạt những thông tin quan trọng và bí mật của Đảng. Và rơi vào diện chờ mọt xác mới được tăng lương.
Kết
Như vậy, dưới thứ ánh sáng tù mù và nhập nhằng thật giả của Đèn Cù, Trần Đĩnh vác “Truyện Tôi” ra kể, trình ra cho độc giả bộ sưu tầm những chiếc mặt nạ của chính ông, gồm nhà báo lỗi lạc, nhà văn kỳ tài, nhà thơ sáng tạo, người “cộng sản đích thực, yêu hòa bình”, nạn nhân “vụ án oan” xét lại chống Đảng kiêm một Trần Đĩnh “bất khuất”. Trên hết và xuyên suốt, ông khăng khăng muốn người đọc, nhất là đám chống Cộng hải ngoại, biết cho ông là người “phản chiến”.
Loạt bài viết về Đèn Cù trên blog này tuy đã cố gắng khơi gợi, lần ra một bộ mặt đích thực của tác giả Đèn Cù, nhưng có lẽ sẽ không bao giờ tới đích bởi có quá nhiều những điều dối trá, thậm chí là lưu manh của Trần Đĩnh trong Đèn Cù và bởi cả những hạn chế của người viết blog, về thời gian, về sự hiểu biết và cả về năng lực cảm thụ cũng như kỹ năng viết.
Tuy vậy, vẫn mong, ít nhiều, bạn đọc ghé thăm blog này có thể nhận ra:
Một Trần Đĩnh “nhà báo”, chuyên “bịa”, “dựng”, “thêm nếm pha phách”... (kỳ 1).
Một Trần Đĩnh “nhà văn”, với thủ thuật đánh bả, trộn nháo nhào các sự kiện (thật và giả), thời gian, người kể và nhân chứng... (kỳ 2)
Một “thi sĩ” Trần Đĩnh, sở trường thơ "một tấc đến giời", rồi lại tự nhận là “cây bút vệ sinh công cộng, chuyên quét lá soàn soạt” (kỳ 3).
Và không hề có một “Trần Đĩnh” phải la làng la xóm “kêu đau” vì oan, mà chỉ có một Trần Đĩnh như một "con vật cưng", được số phận nuông chiều, thậm chí được Đảng, được các lãnh tụ ưu ái. Có lẽ chính những “ngôi sao” này mới là người cần “kêu đau, kêu oan” vì cái “thằng bán đèn cù” Trần Đĩnh (Kiều: Phải tên xưng xuất là thằng bán tơ).
Cũng không hề có một Trần Đĩnh “phản chiến” mà chỉ có một Trần Đĩnh hèn nhát xoay sở đèn cù, khi “chủ hòa”, khi “chủ chiến” và nếu cần gọi đích danh, thì chỉ có một Trần Đĩnh “đảo ngũ” và bây giờ, đang ráo riết tận dụng cơ hội để "té nước theo mưa" theo xu hướng bài Hoa cuồng Mỹ của các nhà dân chủ giả cầy và đám chống Cộng Cờ Vàng hải ngoại hiện nay.
Cũng chẳng hề có một Trần Đĩnh “bất khuất” mà chỉ có một Trần Đĩnh luôn bất nhất và hèn hạ, sẵn sàng khai báo và phản cung lung tung, làm bạn bè phải hàm oan, để riêng mình vẫn được “ưu ái” lâu dài.
Và cuối cùng, cái tội “xét lại chống Đảng” của Trần Đĩnh thì lại chẳng hề “oan” chút nào, thậm chí còn là quá nhẹ, nếu xét trên quan điểm thời kỳ đó Trần Đĩnh đã đi ngược lại ý chí thống nhất đất nước của dân tộc ta.
Bây giờ, “tít mù nó lại vòng quanh”, xin trở lại với “chân tướng” của Trần Đĩnh như ông ta tự nhận xét về chính mình ở chương 17:
“Tôi chẳng qua chỉ là cây bút vệ sinh công cộng quét lá quét lẩu xì xằng sao cho nghe cứ là soàn soạt thật to ở bên tai một số người thế thôi… Thế mà tại sao không nghĩ tới chữ bồi bút? Nhận ra bản mặt không phải chuyện dễ”.
Tôi cho đây là câu viết cũng chẳng có mấy chút chân thành, vì thừa biết Trần Đĩnh viết câu này cốt lấy chút mủi lòng từ những độc giả thuộc “bên thua trận” mà thôi.

Nhưng cũng phải công nhận, với câu này, thì không ai có thể viết đúng về Trần Đĩnh như Trần Đĩnh.

-----------------
Hết