Thứ Hai, 24 tháng 11, 2014

Đèn Cù, lại thêm "một nhầm lẫn hữu ích" và “một sự bốc phét không còn chỉnh sửa nổi”


Như đã nói ở bài viết "Chân tướng Trần Đĩnh qua Đèn Cù - Kỳ 2", mặc dù Trần Đĩnh tự nhận là người từng “viết tiểu sử” cho Cụ Hồ (1960), viết hồi ký cho Tổng bí thư Trường Chinh, Phạm Hùng, Lê Văn Lương ... nhưng trong Đèn Cù, về mặt gắn kết giữa sự kiện và thời điểm thì "văn hào" Trần Đĩnh quả là “bậc thầy” của sự ba vạ, tức là bạ đâu quăng bom đó, liệt kê không hết...
Mới đây, trên blog Giao (nguồn) lại đề cập đến chi tiết “nhầm lẫn” của Trần Đĩnh liên quan đến năm sinh của Cụ Hồ:
“Nhầm lẫn lần này có độ dài 10 năm. Nói đơn giản thì: người anh trai ruột của Hồ Chủ tịch là Nguyễn Sinh Khiêm đã mất đầu thập niên 1950, nhưng trong Đèn cù thì cụ lại còn sống đến tận năm 1960.

Chắc cụ Khiêm đó là một người anh trai khác ? 

Hay nhà văn Sơn Tùng bị nhầm lên tới 10 năm. Vì theo ghi chép của ông thì: "Cụ từ trần ngày 15-10-1950 (tức ngày 23-8 năm Canh Dần) tại làng Kim Liên, hưởng thọ 62 tuổi. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận được tin anh Cả qua đời trong lúc đang bận công tác xa, không thể về được nên đã điện cho Ủy ban Kháng chiến hành chính Liên khu IV bức điện số 1229, nhờ chuyển cho họ Nguyễn Sinh làng Kim Liên". Bức điện này được giới thiệu trong nhiều sách.

Trong Đèn cù, cụ sống đến năm 1960. Có thế, thì các ông nhà văn Hoài Thanh với Nguyễn Huy Tưởng mới có tin giật gân như sau (theo thuật lại của Trần Đĩnh):

(Hết trích)
Cũng trên blog Giao, ở một entry khác, có đặt vấn đề nhà văn Sơn Tùng cũng sai lệch trong việc chuyển đổi âm lịch/dương lịch ngày mất của cụ Cả Khiêm. Nhưng năm mất của cụ thì mọi tài liệu đều khẳng định là 1950. Bằng chứng là bức điện của Cụ Hồ gửi cho dòng họ Nguyễn Sinh, mang số 1229, được viết vào ngày 9/11/1950, còn ảnh chụp lưu tại bảo tàng Hồ Chí Minh: “Nghe tin anh Cả mất, lòng tôi rất buồn rầu. Vì việc nước nặng nhiều, đường sá xa cách, lúc anh đau yếu, tôi không thể trông nom, lúc anh tạ thế tôi không thể lo liệu. Than ôi! Tôi xin chịu lỗi bất đễ trước linh hồn anh và xin bà con nguyên lượng cho một người con đã hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước. Hồ Chí Minh, ngày 9 tháng 11 năm 1950”.
Ấy thế mà theo Đèn Cù thì mãi đến năm 1960, Cụ Khiêm vẫn còn "nói thế" về "năm sinh" của Cụ Hồ. Theo Trần Đĩnh, cụ Khiêm lại còn cho biết "có bằng chứng hẳn hoi trong gia đình và họ hàng" . Thật là hoang đường.

Trước đó, thì một bạn đọc của blog Locliec là Lê Văn, cũng đã phát hiện vụ Trần Đĩnh ba hoa chích chòe về chuyện lần đầu vào Nam, tháng 11/1976, mà đã nhìn thấy tượng Phật Quan âm lớn nhất Việt Nam tại Bãi Bụt (Sơn Trà - Đà Nẵng), trong khi pho tượng này mới khánh thành cách đây 4 năm, tức là năm 2010.
Khác với blog Giao cho đó là một “nhầm lẫn hữu ích của Đèn Cù”, bạn Lê Văn gọi thẳng đó là “sự bốc phét không còn chỉnh sửa nổi”.
Dưới đây là comment của Bạn đọc Lê Văn, ngày 5 tháng 11 năm 2014:
“ Lê Văn20:06 Ngày 05 tháng 11 năm 2014Thiên lý nên bổ sung điều vô lý này: tượng phật bãi bụt bác Thanh cho xây dựng năm 2000 Hoàn thành sau đó 7 năm. Thế mà sau 30/4 Trần Đĩnh vào Nam xe hỏng dừng lại ngủ sáng ra đã thấy (nguyên văn): Gần năm rưỡi sau, tôi được giấy phép vào. Tiền không có, tôi vay Lê Văn Viện, phiên dịch cho sứ quán Ấn Độ, bố Bống tức ca sĩ Hồng Nhung, 500 đồng. To của. (“Anh cứ cầm, bao giờ trả em, mà không trả cũng được”, – Viện nói). Có tiền rồi lại khó khoản vé. Chỉ có thể hoặc nhất thế nhì thân hoặc chìa cổ ra cho phe vé. Tôi nhờ học giả Đào Duy Anh. Anh viết vài chữ bảo tôi cầm đến cho Hiến từng làm ở báo l’ Action, Quân du kích và Hà Nội Mới. Hiến đã mua cho tôi vé liên vận – xe lửa đến Vinh, đổi xe khách trực chỉ ngày đêm vào Sài Gòn.
Đêm miền Nam đầu tiên nghỉ ở Đà Nẵng. Hành khách ngủ vạ vật trên đường quanh xe. Sáng sớm, mở mắt tôi thấy một vùng loá trắng, tinh khiết, ngỡ như mênh mang ngay ở trên đầu: pho tượng Phật. Chợt thấy lòng êm ả lạ. Nhờ ánh sáng an ủi mà một đức Phật bằng lặng và nguy nga như tảng băng Nam cực kia trôi đến ban cho. Sau biết đó là pho tượng Phật Quan Âm lớn nhất Việt Nam ở Chùa Linh Ứng, Bãi Bụt. Hay thật, sao đêm đầu tiên gửi mộng trên đất miền Nam tôi lại ở Bãi Bụt! 
Trả lờiXóaTrả lời
Lê Văn20:15 Ngày 05 tháng 11 năm 2014Theo tôi đó là sự bốc phét không còn chỉnh sửa nổi, chuyện bãi bụt mới tinh khôi " cụ Đỉnh " đã nhầm lẩn đến thế, không hiểu sao cụ nhớ tường tận những đến thế chuyện xảy ra nhiều chục năm trước nhìXóa"(Hết trích)
Đoạn Lê Văn trích ở trên nằm trong chương 38 của Đèn Cù, trong đó Trần Đĩnh cho biết vào khoảng tháng 11/1976 (tức là “gần năm rưỡi sau” ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng), Trần Đĩnh theo xe đò vào Sài Gòn, dọc đường phải ngủ lại Đà Nẵng. Sáng ra, mở mắt ra đã thấy “pho tượng Phật Quan Âm lớn nhất Việt Nam ở Chùa Linh Ứng, Bãi Bụt”.
Sự thật, như bạn đọc Lê Văn đã chỉ ra, tượng Phật Quan Âm lớn nhất Việt Nam tại Bãi Bụt mà Trần Đĩnh mở mắt ra đã thấy “mênh mang ngay trên đầu” chỉ mới hoàn thành vào những năm gần đây, tức là cách đến ba mươi mấy năm, sau cái ngày “Trần Đĩnh vào Nam”.
Nhân đây xin cám ơn bạn Lê Văn và blog Giao, tiện dịp xin giới thiệu với bạn đọc vài bức ảnh tư liệu về bán đảo Sơn Trà, nơi ngày nay có danh thắng chùa Linh Ứng - Bãi Bụt.
Pho tượng Quán Thế Âm bồ tát lớn nhất Việt Nam được đặt tại chùa Linh ứng, Bãi Bụt, thuộc bán đảo Sơn Trà, quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng.
Theo hệ thống tổ chức hành chính của chính quyền Sài Gòn trước năm 1975, thành phố Đà Nẵng gồm 3 quận: quận I, quận II và quận III (bán đảo Sơn Trà).
Bán đảo Sơn Trà nằm ở phía Đông-Bắc thành phố Đà Nẵng với diện tích khoảng 60 km2. Bán đảo Sơn Trà kết nối với Đà Nẵng qua cầu Thuận Phước vốn được hoàn thành vào năm 2009. Nếu vì lý do hỏng xe mà bác tài xe đò Bắc Nam đưa hành khách, trong đó có Trần Đĩnh vào ngủ đêm tại bán đảo Sơn Trà thì đã là một sự rất vô lý, vì từ quốc lộ 1A đi vào Bãi Bụt, ra vào tốn thêm khoảng 30km.
Trước năm 1975, người Mỹ gọi núi Sơn Trà là núi khỉ (monkey mountain), vì đây là nơi thuần cư của loài voọc chà vá chân nâu và nhiều loại khỉ đuôi dài.
Sơn Trà khi đó là khu quân sự, dân thường không được phép thâm nhập, do đó chả có tượng cũng chưa có chùa.
Nếu quả thật tháng 11/1976, Trần Đĩnh từng đến Sơn Trà, thì may ra, cái duy nhất mà Trần Đĩnh có thể thấy là căn cứ rada đặt tại đây do quân đoàn 3 dã chiến (3rdMAF) của Hoa Kỳ quản lý và giao lại cho quân lực VNCH sau Hiệp định Paris. 

Trần Đĩnh hoa mắt nhìn những quả cầu này ra tượng Phật chăng?

Người dân Đà Nẵng hẳn ai cũng quen thuộc với ba quả cầu, phủ lớp vải trắng đăc biệt trên đỉnh Sơn Trà. Trước năm 1975 người Mỹ đã dùng rada từ đỉnh Sơn Trà để khống chế và theo dõi toàn bộ khu vực rộng lớn từ đảo Guam phủ qua đảo Hải Nam (Trung Quốc), qua Thái Lan và bao trùm toàn bộ Đông Dương. Máy bay ném bom miền Bắc Việt Nam cất cánh từ sân bay Utapao (Thái Lan) và đảo Guam đã được sự dẫn đường của rađa này. Sau ngày giải phóng Đà Nẵng (3/1975), căn cứ này do Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp quản và sử dụng, nay là trạm rada 29, thuộc trung đoàn 290, sư đoàn phòng không không quân 375.
Không chỉ có thế, trước giải phóng, bán đảo Sơn Trà còn là tập trung rất nhiều đơn vị Thủy quân lục chiến của Mỹ và hải quân Việt Nam cộng hòa. Đây cũng là nơi đóng quân của “Sở Phòng Vệ Duyên Hải” (Coastal Security Service - CSS), một đơn vị được CIA tổ chức từ thời Ngô Đình Diệm, với các lực lượng Hải Tuần và Biệt Hải chuyên xâm nhập miền Bắc Việt Nam, thực hiện các nhiệm vụ biệt kích, bắt cóc nông dân, ngư dân, thuyền bè, phá hoại các cơ sở hạ tầng và các hoạt động tâm lý chiến khác...

Vị trí các cơ sở của Sở Phòng vệ duyên hải 
Nơi ấy, bây giờ
 
Cổng vào cảng quân sự Tiên Sha, phía sau là núi Sơn Trà
Cầu tàu, nơi tập kết các lực lượng chuẩn bị xâm nhập miền Bắc


Lực lượng Biệt hải tại bán đảo Sơn Trà, lưu ý họ được trang bị súng AK để phù hợp với việc xâm nhập miền Bắc.
Căn cứ quân sự Mỹ quanh bán đảo Sơn Trà

Căn cứ quân sự Mỹ quanh bán đảo Sơn Trà
Chùa Linh Ứng Bãi Bụt được đặt viên đá đầu tiên vào ngày 19 tháng 06 năm 2004 âm lịch, sau 6 năm xây dựng ngày 30 tháng 07 năm 2010 (nhằm ngày 19/6 năm Canh Dần) chính thức khánh thành. Chùa xây dựng trên cơ sở phát nguyện của Thượng tọa Thích Thiện Nguyện, được bà con phật tử gần xa hưởng ứng và được thành phố cấp đất xây dựng cùng một quần thể du lịch mới hình thành của Đà Nẵng.
Chùa Linh Ứng

Thầy Trụ trì và ông Nguyễn Bá Thanh tại lễ khánh thành chùa Linh Ứng và tượng Quan Âm (30-7-2010)

Tượng Phật Quán Thế Âm lớn nhất Việt Nam. Trần Đĩnh đã "thấy" ngài từ năm 1976
Đặc biệt, tại chùa Linh Ứng Bãi Bụt có tượng Phật Quán Thế Âm được xem là cao nhất Việt Nam (cao 67m, đường kính tòa sen 35m, tương đương tòa nhà 30 tầng). Tượng đứng tựa lưng vào núi, hướng ra biển, đôi mắt hiền từ nhìn xuống, một tay bắt ấn tam muội, tay kia cầm bình nước cam lồ như rưới an bình cho những ngư dân đang vươn khơi xa. Trên mão tượng Quán Thế Âm có tượng Phật Tổ cao 2m. Trong lòng tượng có 17 tầng, mỗi tầng đều có bệ thờ tổng cộng 21 bức tượng Phật với hình dáng, vẻ mặt, tư thế khác nhau, gọi là “Phật trung hữu Phật”.
Trở lại Đèn Cù: "Sáng sớm, mở mắt tôi thấy một vùng loá trắng, tinh khiết, ngỡ như mênh mang ngay ở trên đầu: pho tượng Phật. Chợt thấy lòng êm ả lạ. Nhờ ánh sáng an ủi mà một đức Phật bằng lặng và nguy nga như tảng băng Nam cực kia trôi đến ban cho. Sau biết đó là pho tượng Phật Quan Âm lớn nhất Việt Nam ở Chùa Linh Ứng, Bãi Bụt. Hay thật, sao đêm đầu tiên gửi mộng trên đất miền Nam tôi lại ở Bãi Bụt!"
Phải thừa nhận là bác Đĩnh "văn" rất hay, rất rất hay, vượt xa các em cave kể chuyện và các anh nghiện trình bày!
Đã biết mười mươi vậy rồi, mà cũng như bạn Lê Văn, tôi vẫn thắc mắc. Lạ thật đấy, sao "đêm đầu tiên gửi mộng trên đất miền Nam" bác Trần Đĩnh "lại ở Bãi Bụt" được nhỉ??? Bác mắc bệnh mộng du chăng???.
Bác Đĩnh ngơi tay vá víu cái Đèn Cù tập 2, trả lời cái coi!



Thứ Tư, 19 tháng 11, 2014

Đồng cảm với anh Thăng

Trước, thấy bọn thối mồm, ĐCM chúng chửi anh hăng hái quá.
Anh ra công trường thì nó bảo anh phải làm tư lệnh ngành chứ không phải đốc công. Anh ngồi văn phòng máy lạnh thì chúng bảo anh quan cách, thiếu đi sâu đi sát. Anh cấm lính anh chơi gôn, trước hết hãy tập trung vào công việc cái đã thì nó bảo anh vô lý, bất nhân.
Thậm chí có thằng ngu còn hỏi đểu anh giữa nghị trường rằng anh chả có chuyên môn về giao thông thì anh mần răng. Trong khi cử tri cũng cóc biết nó nghề gì mà mần tới ông Nghị.
Hồi ấy, đồng cảm với anh mà chã dám hó hé gì. ĐCM bọn thối mồm, chúng chửi hăng hái quá, tôi rét.
Dạo này thấy dân (dân xịn ấy, không phải thứ dân lá cải hay blóc nhân danh) khen anh Đinh La Thăng rồi. Đéo sợ nữa! Lấy hẳn thơ Cụ Hồ, tặng anh Thăng, cho bõ những ngày....
ĐCM bọn thối mồm!


Phu đường vất vả lắm ai ơi!


Dãi nắng dầm mưa chẳng nghỉ ngơi,


Ngựa xe tấp nập thường qua lại



Biết cảm ơn anh, được mấy người ???



???

















Thứ Hai, 17 tháng 11, 2014

Lai rai chuyện các ông Nghị chửi nhau!

Cách đây ít bữa, báo mạng và cả báo giấy om xòm chuyện các ông Nghị đấu nhau. Báo mạng thì bảo là ông nọ “chửi” ông kia, còn báo giấy, thì bảo họ “đả kích cá nhân” nhau. Tôi văn dốt vũ dát, thôi thì cứ gọi cmn là chửi cho nó gọn.
Người “chửi” là ông Nghị Phước.
Người “bị chửi”, trước là ông Nghị Cuốc và mới đây là ông Nghị Nghĩa.
Ông Phước, có vẻ độc lập hơn các ông kia, chí ít là ở chỗ, ông là một trong số rất ít người được dân lựa chọn, chọn direct. Còn các ông kia thì nói một cách không chính xác lắm, là đã được quảng bá bởi các nhà tiếp thị, trước khi đến tay người tiêu dùng.
Nhớ lại hồi trước, chính Nghị Phước cũng đã từng bị chửi tanh bành nhà lồng chợ, vì ông phát biểu trước Quốc hội rằng “dân trí nước ta còn thấp”, chưa nên ban hành Luật Biểu tình. Lập tức Nghị Phước bị cả một đống những người đang mơ mộng xây dựng một nền "rân trủ" và kiếm xèng bằng nghề biểu tình chửi “hội đồng”. Và cho tới tận bây giờ họ vẫn nhiếc móc ông Phước là “đồ thần kinh” vì đã từng hiến kế hợp tung gì đó cho Saddam Hussein chống Mỹ. Tịnh chưa thấy có ai cãi ông Phước rằng “dân trí nước ta cao, rất cao”, hoặc “chuyện biểu tình thì liên quan quái gì đến dân trí”.
Nghị Phước có vấn đề “thần kinh” hay không? Tôi không biết, nhưng một vài ông Nghị bị chửi và có tiềm năng bị chửi đang bóng gió đòi phải có giấy chứng nhận sức khỏe về tâm thần cho các ông Nghị tương lai. Giấy chứng nhận sức khỏe thì như ta đã biết, ra trước cửa bệnh viện, phòng khám nào gần nhất, xì ra 50 ngàn là có thể có ngay tắp lự, nhưng riêng ông Nghị Phước, thì theo tôi chẳng cần tốn 50 xu, vì nội cái chuyện ông nghe chửi hẳn đã chứng tỏ ông phải có một “thần kinh thép”.
Chẳng hạn, chửi tởm lợm, vô văn hóa nhất, là các comment trên blog Bùi Bòng, ở đây
Hay chửi “lịch sự” kiểu BBC, rằng ông Phước là “dư luận viên đầu đàn”.
Hoặc với “ngôn từ nhẹ nhàng nhất”, là những tin nhắn gửi vào điện thoại cá nhân ông Phước:   
Cùng nghe chửi cả, nhưng khác với các ông kia, ông Phước cũng đã không chọn giải pháp “méc mẹ” là thứ mà các em bé vẫn thường hay sử dụng khi ...bí, tức là khi không đủ khả năng, bao gồm cả lý luận và sức khỏe tâm thần để cãi lại.
Vậy thì việc yêu cầu các ông Nghị tương lai phải đảm bảo sức khỏe tâm thần là cực kỳ hợp lý. Thậm chí còn hơn thế nữa, theo tôi, điều kiện tiên quyết để có thể trở thành ông Nghị là phải đủ bản lĩnh tinh thần để nghe chửi cái đã. 
Vì ở xứ ta, chuyện các ông Nghị bị chửi thực ra chẳng có gì là mới. Nay nghe chửi trên blog còn đỡ, chứ thời Tây, các ông Nghị quanh năm bị chửi, trên các báo giấy, có nhà nước Tây kiểm duyệt hẳn hoi.
Bằng chứng: nhiều học sinh đã từng học những bài “Dân biểu tranh năng” hay “Bầu cử” của nhà thơ Tú Mỡ, trong sách giáo khoa.
Xem lại, trong những năm 1930-1940, cụ Tú từng viết cả séries chửi đích danh gần hai chục ông Nghị, đăng trên các báo Phong Hóa, Ngày Nay:
Từ ông Chủ tịch Viện dân biểu có bề ngoài oai vệ Phạm Lê Bổng:
“Trời cho cái mã bề ngoài
Để che đậy cái sơ sài bên trong”.
Đến các ông dân biểu thường thường bậc trung như:
“Có ông lớn Lại Văn Trung
Ai không biết tiếng cái ông Nghị già
Năm năm được viện bầu ra
Để đọc ề à một bản diễn văn
Bấy lâu thay mặt nhân dân
Công to, việc lớn có ngần ấy thôi”.
Hoặc
“Nghị Thăng tiến sĩ thế mà ngông
Nhẩy múa như con đĩ đánh bồng
Khéo nhập môn vào thầy nghị Vĩnh
Bát vàng ngồi mát chén ngon không?”
Hoặc
“Chắc chắn ai bằng ông nghị Ninh
Người nung núc thịt, béo rung rinh
Dù khi ngủ gật không lo ngã
Vững chãi y như cái cột đình”.
Thế mà ngày ấy chả thấy ông Nghị nào đòi phạt vạ nhà thơ Tú Mỡ về cái tội “chửi” “đại biểu nhân dân” cả, lại càng không thấy ai nói ông Tú Mỡ là “thần quynh”.
Tóm lại, so với các cụ thuộc “Nghị viện Bắc Kỳ” thời thuộc Pháp ngày xưa, các ông Nghị xứ ta ngày nay đã may mắn chán, chí ít là chuyện "thuốc tím cần mua để rửa tai".
Nói ở ta các ông nghị sướng gấp vạn lần xứ tư bổn cũng đúng. Bên bển, khổ lắm, các ông ấy sau khi chửi nhau xong, còn phải đánh nhau vỡ đầu nữa kìa, ai không tin xin mời gúc mấy chữ “nghị viện choảng nhau” sẽ rõ.
Tôi lấy đại diện vài cái ảnh:

Ấn Độ, còn gọi xứ Cà ri, sẵn ớt, nên Quốc Hội tẩn nhau bằng hơi cay:
Taiwan, "tranh luận" về thuế và điện hạt nhân thôi mà, thôi thì có gì dùng nấy:
Chang Sho-wen, nghị viện Đài Loan, bị táng điện thoại di động vào mặt hồi tháng 10/2005:
Venzezuela, 10-2-2011, Nghị bỗng dưng ăn đấm, chỉ vì can tội nói dai:
Hàn Quốc, 7-11-2010, một anh Nghị bị đập búa vào đầu và phải nhập viện.
Trước đó, 22-7-2009 Lee Yoon-sung, Phó chủ tịch Quốc hội Hàn Quốc, cũng ăn đòn:
Trước nữa, ngày 19-12-2008, thì chì là "bất đồng quan điểm" về Hiệp định Tự do Thương mại Hàn - Mỹ.
Hongkong, 27-2-2013, Nghị đẹp chai Leung Kwok-hung choảng John Tsang, Bộ trưởng Tài chính:
Bolivia, 9-4-2009, Nghị đối lập choảng Nghị cầm quyền:
Nghị Mễ Tây Cơ nện nhau trong phiên họp quốc hội vài ngày trước khi tổng thống Felipe Calderon nhậm chức hồi tháng 11/2008:
Italia, tháng 1/2008, Nghị Tommaso Barbato bị bịt mõm lôi ra ngoài, trong một cuộc bỏ phiếu tín nhiệm tại thượng viện Rome:
Somali, 21-12-2011, có chút cãi cọ bằng tay sau khi phế truất chủ tịch quốc hội: 
Quốc hội Thổ Nhĩ Kỳ tranh luận đến hộc máu về một dự luật kiểm soát việc bổ nhiệm công tố viên và thẩm phán:
Gruzia, hai Nghị đã lao vào nhau tranh luận bằng chân tay, ngay tại trường quay được truyền hình trực tiếp trên đài truyền hình quốc gia:
Hy Lạp, Nghị ông Ilias Kasidiaris táng Nghị bà Liana Kanelli cũng trong một chương trình truyền hình phát sóng trực tiếp:


Vất vả nhất, luôn luôn là các ông Nghị Ukraina:
Tranh luận kiểu Ukraina, Nghị Oleh Lyashko muốn phát biểu nên bị Nghị Martynyuk yêu cầu "thử giọng", 19-5-2011:

Các ông Nghị Ukraina hiện nay điều hành đất nước thường là họ chỉ cần dùng tay hoặc hoặc chân và một vài công cụ hỗ trợ:

Trong khi đó, các ông Nghị xứ Uganda đói kém lại thật là hiền lành, chả thấy họ đánh nhau bao giờ, thậm chí là "chửi" nhau, cũng không nốt. Thế mới gọi là "tiên thiên hạ nhi ưu chi ưu",  họ lo ngủ cái đã:
Tội nghiệp, chỉ có mỗi ngài Tổng thống Museveni là lúc nào cũng phải "suy tư" về vần đề ngân sách:
Còn lại, các ông nghị, bà nghị khác thì cứ việc "vô tư" ngáy trong cuộc họp:

Tóm lại, các ông Nghị, bà Nghị xứ ta, về chuyện "nhàn" thì ăn đứt thế giới.
Mà nếu có thua ai, thì họ chỉ thua mỗi các ông Nghị xứ Uganda mà thôi (à là nói về cái chuyện gà, gật ...ấy mà!).

------------------

(*) Nhân đây, xin lục lại từ "Dòng nước ngược", một bài cụ Tú “Giới thiệu các ông nghị với quốc dân” như sau:
“Nhân dịp họp đại hội đồng dân biểu
Tú Mỡ xin đem các ngài giới thiệu với quốc dân.
Để bà con ai có việc chi cần
Thời tìm đến những ông dân rắn giỏi.
Hoặc nhờ các ông bênh quyền lợi,
Hay tâu việc thỉnh cầu lên tới cửa quan
Biết rõ tài năng mà chọn mặt gửi vàng,
Việc công ích mới khỏi nhỡ nhàng luộm thuộm.
Chốn thôn quê, các nhà làm ruộng,
Việc cày bừa phải nhờ lượng ông Trâu (Vương Đình Châu – Bắc Giang)
Chúng chị em các xóm cô đầu
Nghiệp đàn hát phải yêu cầu ông nghị Phách (Đỗ Thục Phách – Bắc Giang).
Cùng hai ông nghị Đào họ Nguyễn và họ Bạch (Nguyễn Văn Đào – Bắc Giang, Bạch Thái Đào – Quảng Yên)
Là những tay đích thực hết lòng
Che chở cho các bạn lầu hồng
May thoát khỏi thệ khám trùng tệ hỹ...
Nhà làm báo, tân văn, tạp chí,
Phải trông vào ông nghị Văn Chương (Nguyễn Văn Chương – Ninh Bình)
Hàng mứt, hàng kẹo, hàng mật, hàng đường
Là phải biết đến ông Trương Văn Ngọt (Kiến An)
Nhà buôn bán lấy vốn nhiều làm cốt
Hữu Bản tiên sinh hẳn là bạn tốt của thương gia (Nguyễn Hữu Bản – Thái Bình)
Hiệu nữ trang phải có ông Ngọc, ông Ngà (Nguyễn Khắc Ngọc – Hưng Yên, Bùi Trọng Ngà – Hà Nam)
Giương thanh thế mới có cơ hưng thịnh
Bọn hàng vặt buôn gồng, bán gánh,
Đã sẵn người thủ lãnh: ông Quang (Đặng Đình Quang – Hà Đông)
Ông nghị Bùi nếu phải mặt giỏi giang, (Nguyễn Văn Bùi – Quảng Yên)
Đáng đại diện cho các hàng bán lạc.
Các bác phó may, lợi quyền nên phó thác
Cho nhà nho Tây uyên bác: ông Kim (Trần Trọng Kim – Hà Nội)
Các cụ đồ viết câu đối buổi tất niên
Nên lưu luyến ông Nghiên là chí phải!(Phạm Huy Nghiên – Phú Thọ)
Nghề làm trống, nhất là trống cái
Giữ tiếng tăm tất phải ủy ông Tùng (Đỗ Mộng Tùng – Hưng Yên)
Các nhà sư mộ đạo sắc không
Muốn chóng thành Phật phải nhờ hai ông Tụng, Lễ (Nguyễn Bá Tụng – Hải Dương và Nguyễn Văn Lễ - Hà Nội)
Nhà hiền triết, ưa cuộc đời lặng lẽ,
Ghét sự bôn ba, sâu xé, tranh dành,
Tìm đến các ông nghị An, nghị Hòa, nghị Bình (Vũ Văn An, Trần Trung Hòa – Bắc Ninh, Nguyễn Tứ Bình – Nam Định)
Nếu sốt rét đã có ông Ký, ông Ninh giúp đỡ (T. Ký và Phan Hữu Ninh)
Ai muốn sống lâu như ngài Bành Tổ
Phải yêu cầu ông Thọ - Quảng Yên (Trần Ngọc Thọ)
Sống mà yêu, bọn trai gái thanh niên
Phải hỏi ông nghị gốc Hưng Yên: Trần Ái
...
Đó là:
Suy danh hiệu, đoán người đại khái
Nhưng cốt việc làm, ta phải đợi họ nhúng tay
Mới tường kẻ dở, người hay...