Thứ Sáu, 27 tháng 11, 2015

Khuyển mã chí tình





------------

Gớm, đèo mẹ, hơn “sáu mươi năm cuộc đời” mới lại thấy xứ Annam ta vẫn còn có người yêu “mẫu cuốc” trung thành, tận tụy và mẫn cán đến thế. Là cứ tưởng cái giống hiếm hoi này đã tiệt nọc từ sau trận Điện Biên Phủ 7/5/1954.
Điển hình mới đây là anh giáo Đăng, Tấn sĩ, Giám đốc Trung tâm đào tạo cuốc tế (IRED) thuộc Kiều lộ học hiệu. Ta sẽ gọi anh là anh Đốc.
Số là hôm thứ Sáu ngày Mười Ba (13/11/2015) vừa rồi, quân khủng bố IS một lần nữa lại tấn công nước Pháp, làm chết đến 130 nhơn mạng.
Quá đau xót trước sự kiện “mẫu cuốc” bị tấn công, anh Giám đốc Trung tâm này bèn nghẹn ngào phát hành một công văn nức nở thay cho văn tế nhớ linh xưa ô hô ai tai, qua đó khẩn cấp yêu cầu sinh viên phải thay ngay avatar facebook bằng biểu tượng cờ Tây (not thịt chóa) trong 3 ngày. Lệnh trên sức xuống, ai nấy nín thinh mần theo, duy có anh cu Nguyễn Thanh Long, sinh viên mới loe ngoe năm thứ nhất (K56) dám cả gan chống lệnh, không chịu thi hành.
Anh cu Long: Ngu, ngu, ngu, ngu!
Đã thế, anh cu Long còn viết thẳng thừng trên phây bục: "Nope. what is a result for stupidity that have to happen" (Không, những gì xảy ra là hậu quả của sự ngu ngốc).
Xét ra anh cu Long viết như thế (và nếu dịch ra như trên) thì có đếch gì là sai? Bởi đơn giản, anh cu Long nhà ta coi bọn khủng bố - giết người và tự giết mình, thì đều là bọn ngu cả.
Nhưng anh Đốc Đăng đâu có chịu hiểu giản đơn như vậy, vì anh đã đỗ Tấn sĩ, lại là xếp sòng Trung tâm Quốc tế, hưởng lộc nước mẹ đã nhiều. Anh Đốc dịch bựa, gọn và tài hoa thành ra tai họa thế này: “Nope. what is a result for stupidity that have to happen” = “Mặc mẹ chúng, ngu thì chết”.
Vậy thì, với anh Đốc, rõ ràng cu Long phải cái tội “cổ súy cho quân khủng bố”. Và nếu nói lấy lòng đám IS theo kiểu “triệu người vui, triệu người buồn” thì anh cu này đích thị thuộc loại dám “vui” trong khi bố mày (tức là anh Đốc) đây, đang “buồn” như “nhà có tang” hay sao?
Kết quả của “ngu thì chết” .... thì cũng là “ngu thì chết”! Anh Đốc bèn đè cu Long ra đòi xử trảm. Mà toàn các tội danh chỉ có trong bộ luật Hành sự Cuốc tế chứ chưa có trong luật Việt nhé: nào là “có tư tưởng cực đoan nguy hiểm”, nào là “phát ngôn bừa bãi” “tuyên truyền khủng bố”. Tình tiết tăng nặng là cái tội dám đéo thèm biết bố mày là thằng nào khi xưng hô trên phây bục (Riêng tội danh này không phải do luật, mà là lệ riêng do anh Đốc định ra, chết chưa?).
Cu cậu Long hẳn không biết ngoài chức danh giám đốc Trung tâm đào tạo cuốc tế của Kiều lộ học hiệu, anh Đốc còn là một nhà hoạt động cuốc tế suốt đời phụng sự cho sự nghiệp cho hòa bình thế giới hay sao?
Ơ nhưng mà trước khi tấn công nước Pháp, hôm 31/10, đám IS vừa đặt bom khủng bố máy bay Airbus A321của Nga, làm toàn bộ 224 hành khách và phi hành đoàn, mà phần lớn là người Nga, thiệt mạng. Vậy sao không thấy anh Đốc hô hào sinh viên phải thay ngay avatar facebook bằng biểu tượng cờ Nga hay cờ Ai Cập?
Thực ra thì từ việc bắt sinh viên phải thay avatar cờ Tây trên fây bục cá nhân cho đến việc đè anh cu Long ra kỷ luật, anh Đốc chỉ muốn thể hiện lòng trung thành, tềnh êu và sự báo hiếu với riêng mỗi nước mẹ Đại Pháp của lòng anh mà thôi. 
Kết cục, anh đốc Đăng bị nhiều người phản ứng, chê bai. Đó là do biện pháp của anh Đốc Đăng tuy om xòm và bạo liệt nhưng chẳng may gặp phải anh cu Long điếc không sợ súng hóa ra phản mẹ tác dụng. Cùng một sự nghiệp bày tỏ lòng trung thành, tận tụy và mẫn cán với mẫu cuốc Đại Pháp thì hai cụ Huệ Chi và Quang A hay ho hơn nhiều và anh Đốc cần xem đó mà học lấy nghề.
Nhớ lại hồi đầu năm (7/1/2015), cũng đám khủng bố IS này xả súng vào tòa soạn tờ báo trào phúng Charlie Hedbo tại Paris, nước Pháp khiến 12 ông Tây thiệt mạng, ối thương ôi.
Khi ấy, hai cụ Huệ Chi và Quang A cũng đau lòng lắm, đến không bút mực nào tả xiết nổi, mà không xổ nó ra được thì hai cụ thà đâm đầu vào nồi nước phở cho xong đời. Tao đi chết đây, khổ lắm, nói mãi, biết rồi!
Ban đầu hai cụ cũng bí, không có phương cách nào để biểu thị cho Tây nó biết cái sự đau đớn ấy. Giá mà sẵn dao mổ lợn thì hai cụ hẳn sẽ tự rạch bụng mình để cho các ông Tây trực quan sinh động rõ hết cả đống lòng mề các cụ. Lúc ấy, thương các ông Tây bao nhiêu, thì hai cụ lại căm thù quân hàng thịt Annam bấy nhiêu, vì quân ấy nó ác, nó đã không cho mượn dao còn hỏi đểu các cụ có phải lợn hay chăng.
Nhưng có hề gì, hai cụ nhiều miu trí lắm. Hai cụ biến đau thương thành hành động báo hiếu.
Hai cụ bèn sắm cái biển, nhờ viết mấy chữ bắt chước “Je suis Charlie” như bọn Tây. Rồi thòng cái biển ấy vào cổ, rồi đập tay ố là la, bông dua me xừ hạ quyết tâm, rồi canh me rình rập nơi cổng Đại sứ quán Pháp tại Hà Nội để trình cái biển ấy ra, để thưa rằng tuy bề ngoài có mũi tẹt da vàng nhưng trong thẳm sâu nơi hai tôi đây là Tây Charlie chính hiệu chứ không phải là Mít Annam. Mà khổ cái phải rình ban đêm, lúc đường phố vắng tanh, và đêm hôm đó rét sun cả dái. Mục đích là để ít người qua lại thôi, chứ ban ngày Tây nó thấy lớ xớ tưởng ăn cắp vặt nó đuổi thẳng cổ: Allez cochons (Cút đi, lũ lợn!). Mà chả cứ gì Tây, đêm ấy, mấy chị hàng rong về muộn, thấy cảnh các cụ chầu chực khúm núm hèn hạ như vậy thì cũng phát tởm mà xem các cụ như lợn.
Suốt mấy tiếng đồng hồ mong đợi ngậm ngùi mà chẳng có con ma Tây nào thèm ngó ngàng đến, cuối cùng hai cụ đành ngượng ngùng tự chụp hình mai đăng fây bục. Cụ nọ chụp cho cụ kia, cụ kia chụp lại cho cụ nọ, rồi hai cụ chụm đầu tự sướng một . Tây nó chưa công nhận, kệ má nó, hai cụ thừa uy tín để tự xác nhận chéo với nhau, rằng từng cụ đều là vỏ Annam nhưng ruột Tây nước mẹ.
Cái chụp chung ấy, hôm sau đăng lên mạng, chả biết nước Pháp và người Pháp có chịu biết cho chăng. Chứ toàn thể người Annam đều biết đến tấm lòng “khuyển mã chí tình” với “nước mẹ” của hai cụ.
Cái ấy còn đây này:

Lưỡng cẩu chầu phân




Thứ Ba, 24 tháng 11, 2015

Sân bay hạng bét – Việc gì phải xoắn



The Guide to Sleeping in Airports
----------
Hôm 17/10/2015, trang web chuyên xếp hạng các sân bay trên thế giới The Guide to Sleeping in Airports  (Những chỉ dẫn khi ngủ ở sân bay) công bố kết quả xếp hạng cho thấy sân bay Tân Sơn Nhất đứng thứ 4 trong danh sách các sân bay tệ nhất châu Á và ở vị trí thứ 8 trong số 10 sân bay tệ nhất thế giới.
Tân Sơn Nhất bị phàn nàn về tín hiệu wi-fi không ổn định, phòng vệ sinh kém sạch sẽ và sự hạn chế trong việc lựa chọn món ăn tại nhà hàng. Ngoài các tiêu chí bình chọn thông thường thì trang web này còn cảnh báo hành khách nên giữ gìn cẩn thận tiền bạc tư trang trước tệ nạn móc túi (?) và có chuyện nhũng nhiễu trong thủ tục hải quan tại sân bay.
Vụ việc có vẻ làm chấn động dư luận và cả các cơ quan chức năng. Truyền thông đua nhau khai thác tin nóng sốt và như thường lệ, báo mạng, nhất là đám láo nháo “lề trái” lại có dịp hả hê ném đá và quy kết trách nhiệm.
Đùng một cái, khoảng một tuần sau khi lọt vào danh sách 10 sân bay tệ nhất thế giới, hôm 24/10/2015 sân bay Tân Sân Nhất lại được đánh giá là một trong 10 sân bay có tiến bộ nhất thế giới.

Tốp 10 sân bay cải thiện nhất thế giới do Skytrax bình chọn
Trong danh sách thứ hai này, các sân bay Charles de Gaulle (Pháp), Doha Hamad (Qatar), và Mumbai của (Ấn Độ) xếp hạng nhất, nhì, ba. Tân Sơn Nhất xếp hạng 7, đứng trên các sân bay Thành Đô (Trung Quốc), Yekateringburg (Nga) và Amman (Jordan), xếp thứ 8, 9 và 10.
Thế là thế nào?
Bảng xếp hạng lần này do một trang web thuộc Skytrax, Tổ chức nghiên cứu các hãng hàng không thương mại quốc tế có trụ sở tại Anh công bố.
Điều đáng lưu ý là Skytrax cũng như The Guide to Sleeping in Airport đều sử dụng những tiêu chí xếp hạng sân bay dựa trên khảo sát mức độ hài lòng của hành khách về sản phẩm và dịch vụ như thời gian chờ đợi (xếp hàng, làm thủ tục…), tình trạng vệ sinh và sự đa dạng của các mặt hàng và dịch vụ mua sắm ở sân bay…
Skytrax là tổ chức nổi tiếng và có thương hiệu toàn cầu trong việc đánh giá chất lượng các sân bay và các hãng hàng không trên thế giới, còn trang web The Guide to Sleeping in Airport, như cái tên của nó, vốn được thành lập với mục tiêu chính hướng dẫn những khách du lịch (lỡ phải) qua đêm ở sân bay một cách thoải mái và tiết kiệm nhất.
Quá trình khảo sát và đánh giá của Skytrax được cho là hoàn toàn độc lập, công khai và bảo đảm không bị bất cứ ảnh hưởng nào từ các cảng hàng không. Bảng xếp hạng thường niên của Skytrax được thực hiện bằng cách khảo sát hơn 13 triệu hành khách từ 112 quốc gia.
Còn với The Guide to Sleeping in Airport thì kết quả đánh giá chỉ thuần túy dựa trên việc ý kiến khảo sát phản hồi của 26.297 người truy cập qua trang mạng này.
Vậy thì ai đáng tin, Skytrax - lừng danh hay The Guide to Sleeping in Airport - ngủ gà ngủ gật?
Xét trên tầm vóc uy tín và thương hiệu thì đánh giá của Skytrax đáng tin cậy hơn?
Khoan hãy vội mừng! Nên biết Skytrax là Tổ chức Nghiên cứu hàng không được các hãng hàng không trả tiền cho dịch vụ tư vấn. Và cũng đừng quên năm 2012, Skytrax từng bị Cơ quan Tiêu chuẩn Quảng cáo (ASA) tiến hành điều tra về tính xác thực của hệ thống xếp hạng và đánh giá ​của họ.
Hay là tin vào The Guide to Sleeping in Airports. Tuy trang web chỉ hướng tới những người ngủ gật ở sân bay nhưng bảng xếp hạng của nó vẫn được nhiều hãng truyền thông lớn trên thế giới dẫn lại.
Cũng chính trang web này, năm 2014 đã xếp sân bay quốc tế Nội Bài đứng thứ 5 trong 10 sân bay tệ nhất châu Á. Điều bất ngờ là năm nay, Nội Bài lại có mặt trong danh sách top 30 sân bay tốt nhất châu Á. Chắc là do may (hoặc không may) là những du khách ngủ tại sân bay (Sleeping in Airport) này không đọc báo cáo của Cảng vụ Hàng không về số vụ mất trộm hàng hoá trong hành lý tại sân bay Nội Bài.
Vậy thì Sleeping in Airport cũng chẳng đáng tin.
Đã vậy thì bị xếp hạng bét hay được khen tiến bộ nhất cũng chẳng nên phải quá xấu hổ hay quá tự hào. Bởi ngày nay, danh tiếng cũng trở thành một mặt hàng mà người ta có thể mang ra mua bán.
“Cái gì không mua được bằng tiền, thì sẽ mua được bằng nhiều tiền”. Triết lý (được cho là) do “triết gia” danh tiếng Năm Cam đề xuất càng trở nên chuẩn xác khi làn sóng các web cá nhân và mạng xã hội trong thế giới Internet ngày càng xuất hiện ồ ạt.
Chẳng hạn, nếu muốn, chỉ cần bỏ ra từ 1000 đến 1500 USD là bạn có thể trở thành “viện sĩ” Viện Hàn lâm New York của Mỹ hay Viện Hàn lâm Khoa học Tự nhiên của Nga, có giấy chứng nhận là thành viên (member) hẳn hoi.
Những tổ chức mang tên viện hàn lâm, viện tiểu sử danh nhân, hoạt động có môn bài đàng hoàng ở Mỹ, Anh, Nga,... rao bán các chức danh chẳng khác gì các cụ bên ta mồi chài in cuốn “Niên giám Tiến sĩ” cách đây mấy năm. Mà đã là “member” của viện hàn lâm này nọ, thì đương nhiên được “dịch” ra là “viện sĩ”. Muốn ít tốn kém hơn thì chỉ cần chi vài ba trăm USD để đùng một phát trở thành “chuyên gia quốc tế hàng đầu”, “bộ óc vĩ đại”, “danh nhân thế giới”, kể cả sẽ có tên trong bộ Who’s Who (Ai là Ai) đứng ngang cùng với Putin hay Obama...
Hoặc, nếu thấy trang cá nhân của mình chưa hot được như của tay hàng xóm thì ta có thể “thuê” người nổi tiếng về làm “friends”, nhờ vào dịch vụ tại FakeYourSpace.com . Khai trương từ 1/3/2015, trang mạng này sẽ cung cấp "người nổi tiếng" cho bạn với chi phí hàng tháng chỉ có 0,99 USD/"người". Nhân vật này sẽ đều đều hiển thị hai comment mỗi tuần trên trang cá nhân của bạn. Thậm chí, bạn được phép sáng tác chính những comment đó.
Dùng tiền “mua” lượng người theo dõi trên Twitter từ lâu đã là chiêu phổ biến trong làng mạng. Tờ báo Diario Gol cho biết, nếu bạn chi 20 euro sẽ có được 1.000 người theo dõi và nếu bỏ ra 1.800 euro thì con số sẽ tăng đến 25.000 người. Qua nghiên cứu dựa trên công cụ kiểm soát của Twitter với độ chính xác cao, tờ báo này chỉ ra có đến 21 triệu trong tổng số 34 triệu tài khoản Twitter đang dõi theo siêu sao bóng đá Cristiano Ronaldo là giả mạo hoặc không hoạt động, nghĩa là anh này có tới 64% lượng fan ảo trên mạng xã hội nhờ "xiền". (Ở ta giá còn rẻ hơn nữa, chỉ cần nhịn ăn 5 tô phở sáng (150.000đ) thì sẽ có 10.000 lượt "subcriber" trên facebook).
Trở lại chuyện xếp hạng sân bay.
Đã biết rằng mọi sự nổi tiếng đều có thể mua được, thì các bác Tân Sơn Nhất cũng chớ nên quá sướng với những đánh giá cao của Skytrax. Mà cũng không có gì phải buồn rầu khi bị The Guide to Sleeping in Airports chê bét hạng.
Mà dẫu có vui hay buồn, thì vẫn cứ phải tiếp nhận những thông tin phê phán trên tinh thần cầu thị, để khắc phục yếu kém, nâng cao hiệu quả và chất lượng dịch vụ.
Vậy thì, một mặt các bác cứ học cách cụ Thượng Trứ, sắm lấy cái mo cau mà che ống khói tàu bay, mặt khác cứ hóng xem thằng Sleeping in Airport (và những hành khách khác) họ phàn nàn những gì để mà tiếp tục hoàn thiện.
Vậy thôi, có gì mà phải xoắn?
-------------
Bonnus về Hàng không nước Mỹ: Kiểm tra an ninh tại American Airlines

--------------------

Thứ Hai, 16 tháng 11, 2015

Đoác Nhân Tôm





----------
- A nhô, a nhô! Chuột chù gọi Chim ưng. Báo cáo xếp, có ông khách hàng cứ đòi lên gặp anh bằng được.
- Thần linh ơi, mưa gió ngập lụt thế này mà cũng có khách đến mua đất hay sao? Tốt, tốt lắm, mời lên đây ngay!
- Tốt cái con khỉ mốc anh ơi. Ông khách này hai tuần trước vừa mua lô đất biệt thự tại dự án Little Đại Dương của công ty, nay xách cả hợp đồng lẫn gậy đến nằng nặc đòi gặp xếp.
- Ối giời ôi, biết ngay mà...thế là chết tôi rồi! Này, này, cô câu giờ giữ nó một lát cho anh và gọi ngay thằng Đoác Nhân Tôm đến cho tao. Khẩn trương!!!
...
Giám đốc Công ty bất động sản Cánh Đồng Hoang vừa kịp chụp cái mũ bảo hiểm lên đầu thì ông khách đã tông cửa xông vào.
- Thằng nào giám đốc? Quân lừa đảo, quân ăn cướp, phen này thì... À, mày đây có phỏng?
- Ấy bình tĩnh, bình tĩnh anh ơi, em chỉ là nhân viên vệ sinh thôi ạ. Giám đốc đi công tác, ủy quyền cho thằng à quên ông Đoác Nhân Tôm tiếp khách. Nó trực tiếp bán lô đất ấy cho chú nên sẽ đến gặp bác ngay giờ đấy ạ. Đây mời ông uống chén nước cháu mới rót chưa kịp uống. Rồi vô phép cụ, cho con được về đưa bà nội đi bơi ....
...
Giữa lúc giằng co lộn xộn ấy, một người dáng bệ vệ, trịnh trọng xách samsonite bước vào. Anh chính là Đoác Nhân Tôm.
Đó là người bán hàng tuyệt vời nhất của công ty Cánh Đồng Hoang, một công ty chuyên kinh doanh bất động sản kèm theo đủ thứ linh tinh đồng nát khác. Tên thật của anh là Đoác, Trần Đoác, nhưng mọi người ai cũng gọi anh là Đoác Nhân Tôm
Công ty có một lô đất rộng thuộc dự án Little Đại Dương trong nhiều năm nay không có một khách hàng nào ngó đến. Chỉ đến khi Đoác Nhân Tôm xuất hiện chói lọi như một đấng cứu rỗi và được giám đốc tin cậy giao toàn quyền xử lý món hàng với tỷ lệ chiết khấu đặc biệt...
Đoác Nhân Tôm nhận hồ sơ giở ra xem lướt. Đoạn anh khịt mũi, cười khẩy và bảo xếp: “Chuyện vặt, chú để đấy anh lo”. Một tuần sau, anh bán được lô đất đó và khổ chủ chính là ông khách hung hãn kia.
Chỉ trong vòng mười lăm ngày sau khi thủ tục mua bán đôi bên hoàn tất, Sài Gòn bước vào những cơn mưa đầu mùa, đường phố ngập trong biển nước. Riêng lô đất kia chìm nghỉm ở độ độ sâu bốn mét so với mặt nước. Đây là viễn cảnh mà bất kỳ khách hàng nào chưa gặp Đoác Nhân Tôm cũng nhìn ra và điều đó giải thích tại sao lâu nay không có ma nào nhòm đến lô đất ấy.
“Có điều gì vậy, thưa ông, có vấn đề gì với lô đất sao? Ông hãy ngồi xuống cho đỡ mệt. Chúng tôi luôn lắng nghe khách hàng và ta sẽ cùng giải quyết mọi việc”. Đoác Nhân Tôm nói, kèm theo một nụ cười tự tin và thân thiện như những môn đệ chân truyền nhà Dale Carnagie (*).
Ông khách: “Vấn đề gì ấy à? Vấn đề ở cái chỗ tao không hiểu chúng mày bán hàng hay ăn cướp? Chúng mày bán cho tao lô đất mà bây giờ nó ngập sâu dưới bốn mét nước. Nó đã thành cái hồ. Tao sẽ làm gì với lô đất đó? Trả lại tiền ngay cho bố mày, nếu không tao giết...”.
Đoác Nhân Tôm: “Hay lắm, hay lắm, đó không phải là vấn đề lớn. Ngài muốn lấy lại tiền, chúng tôi sẽ hoàn lại tiền cho ngài cộng thêm mười lăm ngày lãi suất, có được không ạ. Và chỉ xin ngài đừng hé ra với ai, rằng chúng tôi đang có khách hàng tuyệt hơn, một đại gia có tiếng đang thèm khát lô đất ấy”.
Ông khách: Hả..ả..ả...???
Đoác Nhân Tôm: “Ấy xin ngài đừng thay đổi quyết định, hãy cứ nhận lại tiền cộng thêm mười lăm ngày lãi suất. Ngài hãy cố để quên lô đất tuyệt vời đó đi. Thực ra quên được nó là vô cùng khó đấy, vì người lịch duyệt như quý ngài đây thừa biết rằng ta có thể làm ngôi nhà đẹp ở đó vào mùa khô tới. Và mỗi năm, khi mùa mưa đến thì ngài sẽ là người duy nhất giữa thành phố Sài Gòn có hàng ngàn đại gia này sở hữu một lâu đài lung linh soi bóng xuống mặt hồ... Và nếu cần giải quyết tình trạng ngập cục bộ hiện nay, thì chúng tôi sẽ bán cho ngài một con thuyền đặc biệt chỉ dành riêng cho dự án này. Không có giảm giá, dĩ nhiên. Nhưng các mái chèo sẽ được công ty chúng tôi cấp miễn phí”...

Nguyên tắc số 1: Muốn bán được gì đó (ế) cho khách hàng, hãy tạo ra trí tưởng bở cho họ.
Và chỉ ít phút sau ông khách nóng tính đã đồng ý và trả tiền để mua, không chỉ một mà là những hai con thuyền.
Nãy giờ, tay giám đốc vẫn chôn chân tại chỗ và bàng hoàng chứng kiến toàn bộ câu chuyện diễn ra. Anh ta biết quá rõ những con thuyền kia đã tồn kho trong nhiều năm nay và bị mục, chúng chỉ chờ dịp được hạ thủy để rồi kết thúc vòng đời trong nát vụn. Khi vị khách đã hớn hở ra về cùng viễn tượng tòa lâu đài độc đáo lung linh soi bóng mặt hồ, anh ta, vẫn còn chưa hết run, rụt rè nói với Đoác Nhân Tôm: “Đại ca không sợ sẽ lại tạo thêm rắc rối nữa hay sao?”
Đoác Nhân Tôm khịt khịt mũi và cười khẩy: “Chú lo quái gì? Nếu anh đã giải quyết được vấn đề lớn như cái lô đất đó thì lẽ nào anh không giải quyết được vấn đề hai con thuyền mục?".
------------------------------
(*) Dale Carnegie, người Mỹ, tác giả cuốn "How to Win Friends and Influence People" viết năm 1936, cụ Nguyễn Hiến Lê dịch ra tiếng Việt từ năm 1951 với tên "Đắc nhân tâm". 
Theo cụ Nguyễn Hiến Lê, "Đắc nhân tâm" phổ biến các thủ thuật (19 nguyên tắc) để gây thiện cảm với người khác, trên nền tảng cơ bản là "Kỷ sở bất dục, vật ư thi nhân" (Cái mà mình không ưa thì đừng áp đặt cho người khác). 
Vì vậy:


Các anh làm quan mà không biết Đắc Nhân tâm thì chết cha dân
Nhưng các anh đa cấp mà thạo Đắc Nhơn Tâm quá thì dân cũng bỏ mẹ.




Thứ Hai, 9 tháng 11, 2015

TTP với cuộc chiến bản quyền dược phẩm của Mỹ




Cuộc chiến pháp lý để xác định chủ sở hữu đối với các bài thuốc cổ truyền đang diễn ra gay gắt giữa các quốc gia đang phát triển và các quốc gia phát triển, Người Ấn Độ ước tính rằng mỗi năm có khoảng 2.000 patent liên quan đến bài thuốc cổ truyền của họ đã được cấp do sai lầm của các cơ quan sáng chế trên toàn thế giới, trong đó chỉ tính riêng tại Brussels đã cấp 285 patent có liên quan.


---------
Tiền thầy bỏ túi
Trong cuộc chiến chống lại bệnh tật, nếu thầy thuốc được gọi là người chiến sĩ thì dược phẩm chính là vũ khí đạn dược của họ. Việc sản xuất và kinh doanh dược phẩm của người Mỹ mang lại siêu lợi nhuận có lẽ cũng chả kém mấy so với các anh lái súng xứ Cờ Hoa.
Thống kê từ 1995 – 2010, các hãng sản xuất dược phẩm tại Mỹ đã bỏ ra chi phí nghiên cứu khoảng 34,2 tỷ USD và thu về hơn 200 tỷ USD. Mỹ lại chiếm gần 1/2 thị trường dược phẩm toàn cầu với 289 tỷ USD doanh thu hàng năm, xếp sau Mỹ là EU và Nhật Bản.
Lợi nhuận khủng như thế nên không có gì là lạ khi Hoa kỳ đang dùng TPP để giành quyền kiểm soát thị trường dược phẩm thế giới.

Ơn Chúa, sau những FTAA và WTO thì Ngài đã mang lại cho chúng con TTP
Trong các cuộc đàm phán TTP, các hãng dược phẩm hàng đầu tại Hoa Kỳ đã vận động hành lang để chính phủ Mỹ đảm bảo thời gian bảo hộ độc quyền là 12 năm (12 năm là bớt nhiều rồi nhe, đáng nhẽ theo TRIPS - Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ thì phải 20 niên).
Có nghĩa là, các hãng dược này muốn được độc quyền bán thuốc của họ với giá cao ngất ngưởng trong vòng 12 năm nhằm thu hồi cả vốn lẫn lời khủng và nhanh chóng tái đầu tư nghiên cứu quay vòng, (cho dù các nước kém phát triển hơn hoàn toàn có thể sản xuất cũng thuốc đó, nhưng với giá rẻ hơn). Nghịch lý là họ, những thầy thuốc hàng đầu thế giới, rất giỏi nói về nhân quyền và nhân đạo, nhưng lại không hề bận tâm đến nhu cầu cấp thiết và chính đáng của số đông người bệnh nghèo trên thế giới là phải được nhanh chóng tiếp cận với thuốc giá rẻ.
Chưa hết, cũng trong đàm phán TTP, Mỹ còn đòi tám nước vùng Thái Bình Dương công nhận độc quyền sáng chế (cấp patant) cho các thuốc cũ của họ, nếu đã có thêm chút thay đổi về hình dáng, màu sắc, thành phần thuốc hay cả khả năng chịu nhiệt của thuốc. Một khi được coi là thuốc “mới”, thì họ lại được hưởng độc quyền thêm một giáp nữa.
Gặp sự phản đối quyết liệt từ các nước cùng đàm phán TPP, Hoa Kỳ đã chịu rút xuống còn 8 năm, nhưng với hầu hết các nước này thì thời hạn này vẫn quá dài. Ngay cả một quốc gia phát triển như Australia cũng đòi thời gian bảo hộ không vượt quá là 5 năm.
Một mặt, ngành dược phẩm Mỹ vẫn to giọng đòi kéo dài thời hạn bảo hộ độc quyền thuốc, mặt khác họ lại rất cao tay khi chôm chỉa các tri thức y học truyền thống của các nước nghèo.
Ăn cướp bằng bảo hộ sáng chế
Việc tranh chấp quyền sở hữu sáng chế (patent) đối với các bài thuốc cổ truyền vẫn diễn ra hàng ngày giữa Mỹ và các quốc gia đang phát triển. Cũng phải thôi, nước Mỹ với lịch sử ngắn ngủi của nó thì bới đâu ra dược phẩm cổ truyền, nên chỉ có cách là đi ăn cướp sao cho hợp pháp.
Ấy, cứ tưởng việc bảo hộ sáng chế (dược) là nhằm chống lại các ông ăn cướp, nhưng không hẳn thế. Thậm chí còn ngược lại!  
Điều 102 Luật Sáng chế Hoa Kỳ quy định về điều kiện để được cấp patent đặc biệt có lợi cho các hãng dược của họ, vì đa số trường hợp bài thuốc cổ truyền dù đã được sử dụng rộng rãi tại cộng đồng các nước đang phát triển, nhưng nếu chưa được xuất bản trong một ấn phẩm thì chúng vẫn có thể thuộc sở hữu của Hoa Kỳ. Cổ truyền ở đâu đâu, với người Mỹ rất có thể đó sẽ thành thuốc có yếu tố “mới”.
Chẳng hạn như cây Lô hội (Aloe Vera Linne) có nguồn gốc từ Bắc Phi rồi lan ra toàn thế giới, từ rất lâu đã được sử dụng để làm thuốc. Tài liệu cổ nhất viết bằng chữ hình nêm của người Sumeri trên đất nung, tìm thấy ở Nippur có niên đại 2200 (TCN) và bản viết trên giấy sậy của Ai Cập năm 1550 (TCN) đã nhắc đến nó. Nay thì chỉ người Mỹ mới được cấp các bằng sáng chế US 4178372 - thuốc bôi chống dị ứng ổn định từ cây lô hội và US 4725438 - thuốc mỡ chiết xuất từ cây lô hội. Cái “mới” ở đây là phương pháp chiết xuất dùng nước có pha chlor. Ông Devinder Sharma, chuyên viên về bản quyền người Ấn Độ, mỉa mai nhận xét: thời trước, nước rất sạch, cần quái gì phải tẩy bằng chlor như bây giờ. Chlor chỉ là một cái cớ để người Mỹ ăn cướp kiến thức y học cổ truyền của những nước khác!
Với cây Coca, người Mỹ đã cấp bản quyền sáng chế US 4696819 - về dược liệu chiết xuất từ lá cây coca, cho dù từ hàng nghìn năm nay, vùng núi cao Andes thuộc bờ Tây lục địa Nam Mỹ (trải dài qua 7 quốc gia: Achentina, Bolivia, Chile, Colombia, Ecuador, Pêdu và Vênêzueela), lá coca vẫn được dùng phổ biến như một loại trà thảo mộc. Tương tự, cũng tại Nam Mỹ, năm 1999, người Amazoni đòi nhà nghiên cứu Loren Miller (Mỹ) hủy bỏ bản quyền sử dụng cây ayahuas, một loại cây có tác dụng hướng thần vốn lâu đời đã được các pháp sư bản địa sử dụng trong phù phép và chữa bệnh.
Ấn Độ có cây neem (Azadirachta indica), một cây họ xoan, 5.000 năm trước vốn đã là một vị thuốc trị bách bệnh được ghi trong kinh Veda. Lá, rễ, vỏ, hạt đều được người Ấn sử dụng. Năm 1990, Hãng dược W.R. Grace ở New York đăng ký độc quyền sáng chế về một chất thuốc chiết ra từ hạt cây. Điều đó dẫn đến việc cực kỳ vô lý là dân Cà ri từ nay bị cấm, không được quyền sử dụng hạt neem làm thuốc nữa, vì sử dụng, tức là vi phạm bản quyền của người Mỹ.
Tất nhiên là người Ấn khăn gói quả mướp đi kiện. Sau 5 năm tập hợp chứng cớ, Văn phòng Bản quyền sáng chế châu Âu (European Patent Office, trụ sở tại Muenchen) xác nhận từ năm 1928, tại Ấn Độ đã có những văn bản lưu trong các ấn phẩm và hội thảo về tác dụng dược lý của cây neem, trong đó đã chỉ ra hơn 140 hợp chất dược liệu chiết xuất từ cây neem, gồm các chất kháng viêm, chống loét, kháng nấm, kháng khuẩn, kháng virus, chất chống oxy hóa và chống ung thư… European Patent Office kết luận chất thuốc mà hãng W.R. Grace chiết xuất không có gì “mới” so với chất thuốc mà người Ấn đã sử dụng mấy ngàn năm trước.
Điều trớ trêu là tuyên bố hủy patent do EPO phát hành chỉ có hiệu lực tại châu Âu, vô giá trị với Mỹ. Cho nên, với các tác dụng trị bệnh đa dạng của cây neem, đến nay vẫn có không dưới 54 bằng độc quyền về neem được đăng ký tại Mỹ mà phần lớn vẫn là do hai công ty W.R. Grace và Rohm and Haas đứng tên.
Người Ấn cũng chưa quên chuyện năm 1997, công ty Rice Tec của Mỹ đăng ký độc quyền một "loại gạo basmati mới" vốn là một loại lúa đặc sản được trồng từ lâu và trên diện rộng ở cả Ấn Độ lẫn Pakistan. Vô lý tương tự như chuyện nước mắm Phú Quốc lại do Thái Lan đăng ký nhãn hiệu độc quyền, Rica Tec nằng nặc đòi chỉ có gạo của hãng mới được độc quyền mang tên basmati, một cái tên Cà ri đặc sệt.
Năm 1995 Đại học Visconsin bên Hoa Kỳ xin một lúc bốn bằng sáng chế từ việc chiết xuất chất brazzein, một protein ngọt gấp 1.000 lần đường từ cây Pentadiplandra brazzeana. Người Gabon xứ Tây Phi chỉ còn biết ngơ ngác đứng nhìn, vì đây chính là cây “Tôi quên” mà nhiều đời nay họ đã trồng để nhâm nhi vị ngọt đặc biệt của nó. Quái ác hơn, là để tách rời sáng chế ra khỏi nguồn gốc “Tôi quên”, các nhà pha học Mỹ đã tiến hành pha gen tạo brazzein vào những cây ngô. Cây "tôi quên" của Gabon vì thế bị quên tiệt trên thị trường và người Gabon đành quên một nguồn lợi gần trăm tỷ USD mỗi năm, trong lúc khắp nơi trên thế giới vẫn còn đó nhu cầu thay thế những loại đường có thể gây tác hại.
Cũng tại châu Phi, xứ Madagascar (còn ở ta là các ông lang xứ Bình Định) mất toi bài thuốc từ cây Dừa cạn hồng (Catharanthus roseus) vào tay Hãng dược phẩm Lilly & Company của Mỹ. Công ty này đã chiết xuất từ Dừa cạn hồng ra các chất vinblastine và chất vincristin và thu lợi nhuận đến khó tin, khoảng 20 tỷ USD mỗi năm.
Quay lại Ấn Độ, làm sao có thể tưởng tượng món cari Ấn lại có thể thiếu bột nghệ? Tác dụng chữa bệnh đa dạng của Củ nghệ đã được người Ấn Độ biết đến từ nhiều ngàn năm nay. Nhưng năm 1995, Cơ quan sáng chế và nhãn hiệu Hoa Kỳ (US Patent and Trademark Office – USPTO) đã cấp văn bằng số US 5401504 A cho hai đồng tác giả Hoa Kỳ (gốc Ấn) là Harihar Cohly và Suman K. Das. Người Ấn đã phải chi ra khoảng 12.000 USD cho các dịch vụ pháp lý để đòi lại quyền của mình và ngày 13-8-1997, USPTO đành phải hủy patent đã cấp.
Trước vụ việc này, giới khoa học Ấn Độ đã phản ứng quyết liệt và họ chỉ ra rất chính xác rằng các hãng dược phẩm Mỹ đang thực hiện một thứ “Chủ nghĩa thực dân trong khoa học và công nghệ” (Scientific and Technological Colonialism).
Sống chết mặc bay
Một vụ kiện khôi hài xảy ra năm 2001, khi bác nông dân Percy Schmeister xứ Canada, bị tuyên phải bồi thường cho hãng Monsanto 15.450 dolla Canada vì lý do cây trồng của ông ta đã hợp lai với các ruộng bên cạnh dùng giống biến đổi gen của Monsanto. Tòa tuyên, dẫu không cố ý, thì bác nông dân vẫn đã hưởng lợi từ giống của Monsanto do đó bác phải trả tiền. Ông này trả đũa bằng cách kiện lại Mosanto vì mày đã làm nhiễm bẩn ruộng của ông, vốn phát triển tốt từ 50 năm nay mà cóc cần biết đến biến đổi gen của mày.
Monsanto là tên của Tập đoàn công nghiệp hóa chất lừng danh từng mang thảm họa "chất độc màu da cam" đến Việt Nam. Hiện nay, Monsanto được xem là tập đoàn có thể lũng đoạn các chính sách của nước Mỹ thông qua việc lobby cả tổng thống lẫn quốc hội Hoa Kỳ. Hiện hãng này đang thực hiện một chương trình toàn cầu về cây biến đổi gen nhằm mục đích tạo ra các gống cây có khả năng tự chống sâu hại, tăng năng suất nhưng đồng thời cũng có thể làm cây “tiệt nọc” theo các phương thức sinh sản tự nhiên, nghĩa là sau này không thể dùng hạt cây làm giống được nữa và việc cung cấp giống hoàn toàn sẽ do họ độc quyền. Chương trình mang cái tên rất sống chết mặc bay, là: Kẻ hủy diệt (Terminator).
monsanto cartoon
Món quà của Kẻ hủy diệt dành cho người Việt:
 1 - Chất da cam và 2 - Cây trồng biến đổi gen
(Tranh biếm từ www.coprwatch.org)
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (OMS), từ 1975 đến 1995, trong số 1.233 nhãn thuốc nhân tạo tổng hợp bán ra thị trường mà phần lớn là của Mỹ, thì có đến 1.222 nhãn thuốc hướng đến các căn bệnh của người giàu, còn lại chỉ có 11 nhãn hiệu dành chữa trị các bệnh nhiệt đới là các bệnh vốn phổ biến ở các nước nghèo (khốn nạn thay, 5 trong số này lại là thuốc thú y).
Trong khi đó, ở Mỹ, rất nhiều tiền và công sức đã được đầu tư cho các cuộc nghiên cứu để làm giảm cân, mọc tóc, xóa vết nhăn, tẩy vết nám trên mặt hay chữa trị các chứng bệnh cho thú nuôi trong nhà như chó, mèo, .... Tờ báo The Nation đã đưa ra một so sánh hài hước nhưng lại có giá trị như một bài học luân lý: "Cùng là người bệnh cả, nhưng một anh giàu, già và béo, sói tóc và bất lực được ngành dược phẩm Hoa Kỳ coi trọng hơn nửa tỷ anh sốt rét".
Trước tình trạng thiếu thốn thuốc men ấy, người Ấn Độ, Thái Lan, Brazil, Argentina ..., vẫn phải mắt trước mắt sau đợi dịp các ông lớn Mỹ hết hạn độc quyền để chen nhau tung ra thị trường loại thuốc “ăn theo” được gọi chung là thuốc generic (generic drug) có giá rẻ hơn 40 lần thuốc tương đương của các ông kia. Hơn 10 năm qua, hàng triệu người mắc Sida trên thế giới vẫn phải chờ đợi để nhận được thuốc AIDS giá rẻ chỉ sau khi các ông lớn đã no xôi chán chè, ấy là lúc việc bản quyền sáng chế của họ hết hạn.
Việc ghi nhận bản quyền sáng chế trong lĩnh vực dược phẩm nhằm bảo đảm quyền sở hữu của những đại gia trong lĩnh vực dược phẩm là hoàn toàn hợp pháp nhưng xét trên diện bảo vệ sức khỏe cộng đồng toàn cầu thì đó lại là một hành vi phi nhân.
Bệnh dịch nào biết phân biệt ai đại gia và ai người nghèo?
Nếu chứng bệnh chagas không chỉ hoành hành ở Bolivie, chứng sốt rét vàng không chỉ phá hoại ở Guinée, chứng buồn ngủ không chỉ tồn tại ở Ouganda, và các bệnh như ho lao, ung thư, sida, và sốt rét, không phân biệt ranh giới địa lý, xã hội, xâm nhập ngay cả các nước tân tiến, giàu có như Hoa Kỳ thì sao nhỉ?

Thuốc “hạng hai” (generic) ấy à? Hãy chờ khi nào chúng tao hết bản quyền nhá. 

Thứ Ba, 3 tháng 11, 2015

Để tôi tự xử...



Entry này trả lời câu hỏi: Tại sao mình đọc sách cụ Nguyễn Hiến Lê không "vào"?
--------------------------------


Trong bốn cụ này mình cực kỳ hâm mộ cụ có râu.

Cụ Nguyễn Hiến Lê là một tên tuổi lớn trong giới học giả miền Nam, chuyên về biên khảo và dịch thuật, được nhiều người trong giới cầm bút đánh giá cao cả về nhân cách lẫn học thuật.
Nhiều anh chị, vốn là dân sinh viên, học sinh Sài Gòn cũ gọi cụ là “bậc thầy của bậc thầy”. Chưa nói đến các tác phẩm “học thuật” rất kén người đọc, chỉ riêng những cuốn thuộc loại “học làm người” của cụ đã trở thành sách “gối đầu giường” với vài thế hệ. Nhất là vào cái hồi mà dòng chảy văn chương Saigon đua nhau nói đến những "hiện sinh", "siêu hình học", những "hố thẳm", "nôn mửa" và "lạc loài" thì Nguyễn Hiến Lê “độc lưu”, cung cấp cho tuổi trẻ những kiến thức để giải quyết các vấn đề cụ thể và thực tiễn qua bộ sách này.
Mình từng vài lần bị các anh chị ấy mắng vì cái tội bạo miệng xét nét cụ Lê. Kể ra thì cũng tại mình hay hồ đồ phang ngang. Những lúc ấy, xin nhận khuyết điểm, và tự phạt một ly.
Nhưng thú thật, khẩu phục mà lòng vẫn chưa thông, nên hôm nay tự nguyện xin thêm vài ly nữa hehe.
Sách của cụ Nguyễn Hiến Lê xuất bản cũ mới khoảng hơn trăm cuốn, mình chỉ mua được chừng chục cuốn gì đó, thỉnh thoảng lôi ra ngắm nghía. Chỉ vậy thôi, chứ đọc không vào, cứ được độ mươi trang là bỏ. Ra hiệu sách đọc lướt, cũng không vào.
Nghĩ mãi, không hiểu ra sao.
Từ khoảng 1976, mình đã được tiếp cận với một số sách truyện miền Nam do các anh lớn cùng lớp (bộ đội gửi học) thỉnh thoảng cho mượn. Đa phần là những cuốn truyện chưởng nhàu nát, mất đầu mất đuôi. Hồi ấy chưa hiểu lắm về thể loại “võ hiệp kỳ tình Trung hoa dân quốc” này, lại đọc lẻ, thiếu hệ thống, đọc trước quên sau nên không đánh giá cao, cho là loại "văn hóa đồi trụy", nói phét một tấc đến giời. Mãi cả chục năm sau mới ngộ ra, trong cái đống “một tấc đến giời” ấy có hàm chứa từ những triết lý sâu xa, những kiến thức về lịch sử, tôn giáo, y học, võ thuật, cho đến phong tục, tập quán, văn hóa Trung Hoa thời trước.
Một hôm anh Minh cho mượn cuốn Đắc nhân tâm. Cuốn này còn nguyên, không mất trang nào, lại thấy được bọc bìa nilon hẳn hoi. Anh Minh thì thào thì thào bảo đây là cuốn gối đầu giường của đám học sinh sinh viên miền Nam, quý lắm, quý lắm ông ạ. À thì ra ông anh cũng quý thằng em lắm, giờ mới cho mượn đây.
Mà không quý sao được, sách từng in mấy chục triệu bản, bán chạy nhất nước Mỹ trong nhiều năm liền kia mà?
Chúi mũi đọc lướt được chừng hai ba chương thì bỏ dở, đọc không còn thấy hứng thú nữa. Vì nội dung loanh quanh lẩn quẩn mỗi chuyện làm sao để gây được thiện cảm với thiên hạ. Để làm gì? Cái đích cuối cùng, là nhờ vậy mà ông Tom sẽ bán được mớ hàng tồn này hay ông Jery đã bán được món kia với giá cao hơn kẻ khác. Chán như con gián.
Vậy là ngay từ đầu, cuốn Đắc Nhân Tâm dù được gọi là “cẩm nang gây thiện cảm” lại khiến mình không có thiện cảm với chính nó. Như người ăn cơm nhai phải cục sạn, răng ê mất rồi chăng?
Sau này đọc hồi ký Nguyễn Hiến Lê lại biết chính cụ cũng nhận định rằng cuốn sách này “hơi có tính cách vị lợi”. Và vì thế cụ không muốn tái bản Đắc Nhân Tâm, mặc dù sách bán vẫn rất chạy, kể cả sau giải phóng.
Nhưng Đắc Nhân Tâm là cuốn sách dạy về lối sống, loại sách “học làm người”, có tính phổ thông, viết cho đối tượng đọc chủ yếu là thanh thiếu niên. Ta không thể đòi hỏi tính “học thuật” ở đó.
Thế còn với sách gọi là “học thuật” của cụ Lê thì sao?
Khi đất nước còn chưa thống nhất, giáo sư Đào Duy Anh đã đánh giá bộ Đại cương văn học sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê (viết chung với Giản Chi) là "tác phẩm trội nhất từ trước tới nay trong loại của nó". Sau Giải phóng, một trong những học giả phía Nam đầu tiên mà cụ Đào ghé thăm là cụ Nguyễn. Rồi nhiều lần, mỗi khi cụ Đào từ Bắc vào đều đón xe ôm hay xích lô đến tận nhà chuyện trò cùng cụ Nguyễn. Đủ biết uy tín cụ Nguyễn và mối tương giao giữa hai nhà học thuật này đáng trân trọng đến chừng nào.
Vậy mà mình chê . Vì từng chơi dại, mua cùng lúc hai cuốn Nam Hoa kinh, một cuốn do cụ Lê biên khảo (Trang tử – Nam Hoa kinh) và một cuốn do Nhượng Tống dịch (Nam Hoa kinh).
Lại trót đọc bản Nhượng Tống trước, vì nó mỏng(!). Đọc bản của Nhượng Tống rồi thì đâm ra “mất hứng” với bản của cụ Lê, như vừa được xơi một món quá ngon, ngay sau đó lại “bị” ăn tiếp vẫn món đó, nhưng do một đầu bếp khác, dẫu không hẳn là kém tài, chế biến.
Nhưng cũng phải rào trước rằng, khen chê một món “ngon” hay không đều có tính chủ quan, kiểu như Tây ăn mắm. “Ngon” hay “không ngon”, ngoài do tay nghề hay dở của đầu bếp còn do cái “khiếu ẩm thực” của người thưởng thức có "hạp" hay không, nói văn vẻ thì là còn tùy thuộc vào năng lực tiếp cận của người đọc. Với mình thì bản Nam Hoa kinh do Nhượng Tống dịch là “ngon” nhất trần đời rồi, còn ai yêu thích các bản khác (Nguyễn Tôn Nhan, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Duy Cần...), xin tùy hỉ.
Là vì bản dịch của Nhượng Tống giữ được cái âm điệu của cổ văn đồng thời bám sát nguyên văn chữ nghĩa tù mù mờ ảo của Nam Hoa kinh. Nó thôi thúc người đọc phải tự khám phá, nhờ thế người đọc cứ việc tự do cảm nhận, xét đoán, mặc tình thả bộ Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi, đi lên đi xuống đã đời du côn (Tiêu diêu du) hay đo lọ nước mắm đếm củ dưa hành (Tề vật luận) cùng hiền nhân Trang tử.
Bản Nguyễn Hiến Lê, nguyên liệu chính đương nhiên vẫn là như vậy, nhưng lại được gia vị thêm vào nhiều thứ. Nào là giới thiệu tác giả tác phẩm, nhận định, so sánh, đánh giá ưu, nhược điểm, bình chú, luận giải, cách dịch... Phần dịch thuật Trang tử  lại dụng lối văn hiện đại, là văn Tây. Tuy có dễ đọc, dễ hiểu thật đấy nhưng lại làm át đi hương vị đặc sắc của món chính, món thiết yếu, là cái tư tưởng, cái hồn cốt đạo “vô vi” của cổ nhân.
Ấy thế mà ngay từ đầu, chính cụ Lê lại hướng dẫn cách đọc: Khi đọc Trang tử phải “tạm bỏ tinh thần lí luận của ta đi, rán dùng trực giác để tìm hiểu Trang, nhời Trang khuyên khi tìm hiểu đạo, phải bỏ thành kiến của ta đi, dùng ngay lời của Trang mà giảng Trang”. (Trích cuốn Trang tử – Nam Hoa kinh).
Tưởng người đọc, nếu thực sự muốn bỏ lý luận, dùng trực giác để tìm hiểu Trang như cụ Lê dạy thì nên đọc bản của Nhượng Tống mới phải. Đúng ra thì bản dịch Nam Hoa kinh của Nhượng Tống là để dành cho những người thích cảm, còn sách Trang Tử – Nam Hoa kinh của cụ Lê thì hữu ích cho những ai thích luận.
Mình thuộc dạng thích đùa. Thành ra với mình, món ăn của cụ Lê dọn ra tuy có tên trong menu là “Trang Tử – Nam Hoa kinh” thật đấy, nhưng nếm vào thì đã thành “Nguyễn Hiến Lê – Nam Hoa kinh” mất rồiÔng Trang tử Tiêu diêu du, cụ Nguyễn Hiến Lê thế chỗ.
Không hiểu có phải do cái ấn tượng tệ hại từ “cái thủa ban đầu lưu luyến ấy” với Đắc Nhân Tâm và sau là với Trang Tử – Nam Hoa kinh hay không mà cho bây giờ cũng không thể đọc được trọn vẹn cuốn nào của cụ Nguyễn Hiến Lê, ngoại trừ cuốn Hồi ký và cuốn Để tôi đọc lại.
Đọc hai cuốn này, thì thấy nổi bật lên ở cụ một tấm gương tự học, đức kiên nhẫn và khiêm nhường, tinh thần làm việc miệt mài mà lại cẩn trọng, sự tôn trọng khách quan và thái độ nhân bản. Trên hết, là nhân cách của một bậc trí thức thứ thiệt. 
Nhưng, vẫn lại nuốt thêm một cục tức nữa khi đọc Hồi ký. Cái tức này có thể là do mình quá săm soi xét nét nhưng sự khắt khe ấy chắc chắn xuất phát lòng tôn kính đối với cụ Lê mà ra, vì thế nó chưa hẳn đã là của riêng mình.
Mình cứ ấm ức mãi ở cái chỗ sao trong hồi ký, cụ cứ nhắc đi nhắc lại hơi bị nhiều về cái giải thưởng mà cụ đã từ chối phắt từ đời tám hoánh (nay lại còn tỉ mẩn quy ra tiền, ở thời điểm hồi ký)?
Khi xưa, cụ đã coi đó là thứ phù phiếm rồi kia mà, giờ còn so đo đong đếm làm gì?
Hay là bởi cụ khi từ chối giải thưởng là đã quyết chí Tiêu diêu du rồi, nhưng về già vẫn chưa thể quên Tề vật luận?
Cái tội bỡn cợt láo toét với các bậc thầy, trước sau cũng bị chửi. Và đáng bị chửi. Thôi thì các bác đưa cả chai đây. Để em tự xử. 


-------
TB: Tít bài (Để tôi tự xử) được gợi ý từ tên sách "Để tôi đọc lại" của cụ Nguyễn.