Thứ Ba, 27 tháng 10, 2015

NGU GÌ KHÔNG "ĐẠO"?



(Văn đạo Tràng an tự dịch... gà)
----------------------------------------------------
Sự cần thiết phải "đạo văn"
Có khá nhiều những định nghĩa về "đạo văn" đã được đưa ra, những định nghĩa này có khác nhau ít nhiều. Nhưng cho dù có những khác biệt, thì ai cũng hô khẩu hiệu rằng "đạo văn" là một hành vi vi phạm đạo đức không thể chấp nhận của một người trong giới trí thức.
Nhưng không “đạo văn” thì lấy cóc đâu ra “tri thức” để mà được gọi là “trí thức”.
Học, học nữa, học mãi. Sự học há chẳng phải là một quá trình đạo văn liên tục của đời người đó sao? Bé thì cần chăm chỉ “luộc” giáo huấn từ cha mẹ thầy cô, lớn thì phải tích cực “xào” kiến thức từ sách vở, từ xã hội, nhất là từ internet.
Mà có sao đâu, khi ta được cô giáo dạy “Hai nhân hai bằng bốn”, cô giáo ta “thuổng” kiến thức từ bảng Cửu chương đó thôi, khi ta được thầy dạy “Tổng các góc trong một tam giác bằng 180 độ”, thầy ta “chôm” kiến thức từ Euclid, một ông ất ơ người Hi Lạp đó mà.
Các cụ đại trí thức tiền bối, từ Tây cho đến Ta đều cực giỏi nghề “đạo văn”, không giỏi đạo làm sao có thể gọi là đại trí thức được.
Tây - ăn cắp trắng trợn:
Thiên tài khoa học Isaac Newton, khi được hỏi “Tại sao ngài có thể “nhìn xa” đến thế?” đã trả lời: “Ấy là bởi vì tôi biết cách đứng trên vai những người khổng lồ”.
Newton biết học hỏi và sử dụng trí tuệ của những thế hệ đi trước, biến kiến thức của họ thành của mình. Rồi đến lượt mình, ông lại trở thành một người khổng lồ cho các thế hệ sau đứng trên vai.
Nhưng Newton vĩ đại cũng còn là một người “cầm nhầm” đầy tai tiếng, theo nghĩa đen.
Lược sử thời gian của Stephen Hawking cho biết: 
Cuốn Principia Mathematica, cuốn sách vật lý nổi tiếng nhất của Newton được xuất bản lần đầu với những dữ liệu do nhà thiên văn Hoàng gia John Flamsteed cung cấp. Khi John Flamsteed từ chối không tiếp tục cung cấp các thông tin mà Newton đòi nữa, Newton tự bổ nhiệm mình vào ban giám đốc Đài thiên văn Hoàng gia và lấy danh nghĩa này để buộc ông kia phải công bố các dữ liệu. Ông còn ra lệnh thu giữ công trình của Flamsteed và giao cho người khác chuẩn bị xuất bản. Khi Flamsteed đưa vụ này ra tòa và tòa án ra lệnh không cho xuất bản tài liệu bị đánh cắp, Newton bèn trả thù bằng cách xóa bỏ mọi tài liệu dẫn về Flamsteed trong các lần tái bản Principia.
Nhà triết học và toán học Gottfried Leibniz (Đức), là người cùng thời và đã độc lập với Newton phát triển môn toán Giải tích (Calculus), rồi sẽ là cơ sở cho vật lý hiện đại sau này. Ngày nay, chúng ta biết Newton đề cập đến Calculus sớm hơn Leibniz, song Leibniz lại công bố các công trình của mình trước Newton. Trong cuộc tranh cãi ai là người đầu tiên tìm ra Calculus, thì phần lớn các bài báo ủng hộ Newton lại được chính Newton viết ra và công bố dưới tên người khác. Khi cuộc cãi vã được đưa ra Hội Hoàng gia giải quyết, thì một hội đồng “không thiên vị” đã được lập ra nhưng lại gồm toàn những người cùng phe với Newton. Leibniz quên béng rằng chủ tịch Hội Hoàng gia lại chính là Newton.

Sau chót, Hội Hoàng gia đã công bố một bản báo cáo, do chính Newton viết để công khai buộc tội Leibniz đánh cắp công trình. Và đích thân Newton còn bồi thêm cho Leibniz một phát súng ân huệ bằng một bài báo nặc danh điểm lại bản báo cáo nói trên, đăng trên tạp chí riêng của Hội Hoàng gia.
Biếm họa về Newton và Leibniz.
Hiện nay, trong Toán giải tích chúng ta đang dùng các ký hiệu do Leibniz đề xuất. 

Ta - “tập cổ” nho nhã.
Thời các cụ chúng ta ngày xưa, sách vở (chép tay hoặc in) đã hiếm lại còn thỉnh thoảng bị đem ra đốt. Phương tiện truyền thông phổ biến và tiện lợi nhất là truyền mồm
Thời ấy, ta với Tàu dùng chung một thứ chữ, cùng có quy ước bất thành văn rằng, cụ nào càng nhớ, càng “chôm” được nhiều chữ nghĩa thánh hiền hoặc văn thơ tiền nhân thì càng được khen là hay chữ.
Xưa cho rằng “Nhập thế cục bất khả vô văn tự” cho nên văn chương cụ nào mà chẳng có ma nào thèm “ăn cắp” thì cụ ấy hẳn phải tự thẹn rằng mình bất tài, văn ế, không ai biết tiếng, chẳng để lại được "văn tự" gì cho hậu nhân. Vì vậy, cụ nào càng được nhiều cụ khác “đạo văn”, thì lại càng vui, càng lấy làm hãnh diện lắm lắm.
Các cụ ta gọi đó là Tập cổ (Học theo người xưa), nghĩa là sử dụng lại những câu trong một bài văn hoặc bài thơ nổi tiếng, để mà khai triển thêm nhận thức, tâm trạng, cảm xúc, tư tưởng của mình.
Chẳng hạn như cụ Nguyễn Trãi, trong Bình Ngô Đại Cáo:
“Quyết Đông hải chi thủy, bất túc dĩ trạc kỳ ô
Khánh Nam sơn chi trúc, bất túc dĩ thư kỳ ác”
(Tát cạn nước Đông Hải, không đủ rửa vết nhơ
Chặt hết trúc Nam Sơn, chẳng đủ ghi tội ác )
Thì đã tập cổ theo hai câu trong bài hịch kể tội Tùy Dạng Đế của Lý Mật đời Đường:
“Quyết Đông hải chi ba, lưu ác bất tận
Khánh Nam sơn chi trúc, thư tội vô cùng” 
Hoặc cụ Nguyễn Du, trong Truyện Kiều:
“Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
Thì tập cổ từ hai câu cổ thi của Tàu:
“Phương thảo liên thiên bích           
Lê chi sổ điểm hoa”                
Và:
“Trước sau nào thấy bóng người
Hoa Đào năm ngoái còn cười gió Đông”
Là tập cổ theo thơ Thôi Hiệu:
“Kim niên nhân diện hà xứ khứ   
Đào hoa y cựu tiếu Đông phong” 
Hoặc thơ Tiên, Cao Đài giáng bút:
Nước thu biêng biếc một mầu trời
Cánh cò cô độc dáng chơi vơi
Thì ra Tiên cũng giáng thi từ thơ Vương Bột:
“Lạc hà dữ cô vụ tề phi                         
Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc”
Tóm lại, “đạo văn” kiểu tập cổ như các cụ chẳng có gì là xấu. Đã vậy, các cụ còn bảo nhau phải “nấu sử sôi kinh”, hàm ý rằng các anh khóa hãy ra sức “xào” và “luộc”.
Ngày xưa, cái khó bó cái khôn. Phương tiện in ấn và phát hành thiếu thốn, kiến thức chủ yếu được chép tay và truyền miệng, nên việc xào với luộc là khó lắm thay, lại dễ bị “tam sao thất bổn” hoặc tai hại hơn là “phúc thống phục nhân sâm”.
Nay là thời toàn cầu hóa, thế giới mỗi ngày mỗi “phẳng” cùng với sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin. Có điều kiện như thế, họa có là ngu mới không biết tiếp thu và sự dụng nguồn tài nguyên khổng lồ về khoa học, công nghệ có sẵn. Tất nhiên, bằng cách đạo văn.
Mười năm trước, đường sắt cao tốc của Tàu là một con số không, thế mà giờ đây, họ là một trong những quốc gia hàng đầu thế giới về lĩnh vực đó. Ấy là nhờ họ quá xuất sắc trong việc hô biến công nghệ Transrapid của Đức và Shinkansen của Nhật thành của họ, lại càng xuất sắc hơn nữa trong việc phi tang để không vướng vào kiện cáo.
Lịch sử xưa nay vẫn cho thấy, việc “ăn cắp kiến thức” là phương cách hữu hiệu nhất để phổ biến những trí tuệ nhân loại và nhờ đó thì người sau mới có thể đứng trên vai những người khổng lồ đi trước. Hãy đặt câu hỏi tại sao tỷ phú Bill Gates tự nhiên bỏ một đống tiền ra để nối mạng cho khoảng 11.000 thư viện trên khắp thế giới.
Ông ta muốn gì? Câu trả lời duy nhất chính xác là Quỹ từ thiện của Bill Gates muốn cung cấp phương tiện giúp cho bàn dân thiên hạ, đặc biệt là những người nghèo, dễ dàng thực hiện công cuộc “đạo văn” trên quy mô toàn cầu.
Thế thì còn đợi gì mà không đạo? Trí tuệ nhân loại nào có thuộc sở hữu riêng ai?
Nhưng hãy bắt chước bọn Tây và Tàu, trộm cướp hẳn những món lớn, có giá trị cao như khoa học và công nghệ.
Chớ đừng như ở ta, chỉ giỏi “ăn cắp vặt”của nhau, có khi được một đoạn, có khi chỉ có nửa câu. Thơ mới chả thẩn.
----------------------
Thêm: Nhân đọc bài “Chữ đạovăn kia cũng có ba bảy đường” của bác Vương Trí Nhàn nhớ câu nói nổi tiếng của Học giả Phạm Quỳnh: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn. Nghe cũng từa tựa như một câu trong truyện Buổi học cuối cùng của nhà văn Pháp thời đó là A. Daudet: “Một dân tộc rơi vào vòng nô lệ mà còn giữ được cái tiếng nói (sa langue - ngôn ngữ của họ) thì cũng như vẫn còn cái chìa khóa mở ngục tù”. Rất có thể cụ Phạm chịu ảnh hưởng từ Daudet.  


Thứ Hai, 26 tháng 10, 2015

Trường phái thơ tích hợp


SÁNG BẠCH 
(Thơ của Lý Đạo Thi, dán cột điện từ 1995)
-----------
Những gương mặt người
Quen mà không quen
Sương nén trong veo từng giọt cà phê muôn đời đen nhánh
Câm nín tiếng chim, khua vỡ buổi sáng lạnh
Gõ thức mặt trời
Em một mình ngồi khuấy
Loãng thời gian
Buổi sáng ôm anh nắng nói lời mê ngủ
Nỗi nhớ quàng quanh chiếc bàn nhỏ
Mây tái mặt thẫn thờ
Gió chối từ, se lạnh quanh gối chăn bỏ ngỏ
Bản giao hưởng phảng phất blues jazz đêm qua còn lẩn khuất phím dương cầm
Người thiên di vội quên cung bậc cuối cùng
Ai hờ hững xéo lên lá cỏ?
Nửa vời nụ hôn không cửa trái tim
Buổi sáng điềm tĩnh ngồi một mình chờ gió
Những nụ cười lạ như không quen
Lục lọi trí nhớ hình nhân đêm
Em đậm đặc với nắng thu mưa hạ
Lòng bàng hoàng tàn đông nuối tiếc níu vạt áo xuân
Quấn quýt trùng căng kén ngà tơ lạ
Nuốt vào chầm chậm như loài lông vũ
Vừa bay vừa thảng thốt âm u
Buồn ngại ngần níu vạt ngu ngơ
Đã chậm mất nhau nửa cùng mùa cuối
Khói thuốc cay và cà phê đắng
Bão giông qua lạc nhịp nửa đời
Buổi sáng ngồi một mình
Buổi sáng mỵ tình
Cơn đau da lươn lên men vân gốm
Thơ quen
Người lạ
Uống
Nốc
Cạn kiệt
Một tứ thơ

Chôm!

Thứ Năm, 22 tháng 10, 2015

Phọt Phẹt - Phán Mọc sừng.



Nguồn:
http://www.photphet.info/2015/10/phan-moc-sung.html

PHÁN MỌC SỪNG.



Mời xem đề - mô, hố hố https://www.youtube.com/watch?v=alwXwifxbOk

***

Phọt_Phẹt: Thưa ngài, ngài là một người chồng mọc sừng.

Phán mọc sừng: Đây, còn 5 đồng cầm nốt đi. Gớm nữa.

Phọt_Phẹt: Đội ơn ngài. Chẳng hay ngài có còn thuê tôi nguyền rủa tiếp?

Phán mọc sừng: Bố vợ tôi chết rồi thì còn cần anh làm gì nữa.

Phọt_Phẹt: Sao lại có cái lý ấy được ạ?

Phán mọc sừng: Tôi nhờ anh việc ấy là để cho cụ chóng chết. Giờ cụ chết rồi anh định biến tôi từ ông phán danh giá sang bộ thú có sừng hay sao?

Phọt_Phẹt: A, là ra thế ạ. Chẳng hay ngài đi đâu mà nom bảnh chọe?

Phán mọc sừng: Tôi đi bắt vợ ngoại tình. Anh đi mới tôi, tôi biếu anh 10 đồng nữa.

Phọt_Phẹt: Thời nay đâu còn cái giá ấy. Phải 100 đồng. Mà tôi giúp được gì ngài?

Phán mọc sừng: Anh không cần phải làm gì cả. Mà chỉ cầm cái này quay lại toàn cảnh tôi bắt ngoại tình thôi. Máy Ai-phôn Lục ét đấy xứ Cờ Hoa đấy, bấm cái nút này là quay. Nhớ là nét vầu nhớ để tôi còn hất lên Phất - búc.

Phọt_Phẹt: Xin ngài cứ yên tâm. Láu cá là nghề của tôi. Nhưng xin hỏi lý gì mà ngài làm thế ạ? Chuyện này chả gì hay ho, đóng cửa bảo nhau chẳng hết. Ấy thế mà ngài lại rùm beng lên. Nhẽ ông bố vợ ngài lại đội mồ sống dậy?

Phán mọc sừng: Bậy nào. Là tôi muốn cho cả thiên hạ thấy cái suy đồi của phong hóa nước nhà và tiết hạnh của các bà vợ Âu hóa mà thôi. Gớm chửa, đâu lại có cái giống lăng loàn như thế chứ.

Phọt_Phẹt: Chẳng hay bà nhà ngoại tình với người cũ ở chốn Bồng Lai, thưa ngài?

Phán mọc sừng: Không phải. Là thằng khác, chánh sở đầu vụ Lục lộ chỗ tôi làm. Nó là sếp tôi. Sếp cả vợ tôi nữa. Anh xem thế có điên không? Cơm thày - vợ bạn - gái cơ quan nó phải trừ ra chứ. Đằng này...!!!

Phọt_Phẹt: Quan xứ ta đều mồm rộng, chim dài cả, chửa kể răng còn vàng như một bìa đậu rán, cứng rắn gang thép hẵng còn thua. Liệu ngài có liều mạng quá chăng?

Phán mọc sừng: Tôi làm việc này đâu phải cho bản ngã cá nhân. Tôi thức tỉnh các ông chồng và vạch mặt các bà vợ ra đấy chứ. Nếu có mệnh hệ gì làm cho thân bại danh liệt tôi cũng cam lòng. Chết vì sự tấn bộ văn minh, tôi chấp nhận tất cả.

Phọt_Phẹt: Ngài thật là cao thượng. Xin được vô phép hỏi, đầu ngài đã bị cắm bao nhiêu sừng cả thảy?

Phán mọc sừng: Cái này anh phải hỏi vợ tôi thì mới tường minh chính xác. Nhưng nếu đếm vội nhẽ cũng phải ba vạn chín nghìn rồi, bằng đúng số tóc mọc trên đầu tôi đây.

Phọt_Phẹt: Giời đất ơi, nhẽ đây là một kỷ lục của hoàn cầu. Tôi rất lấy làm hân hạnh nếu ngài chỉ cho tôi cách để cắm lên đầu mình một cái. Ơn ngài lắm lắm.

Phán mọc sừng: Dễ thôi mà. Anh nên chăm chỉ uống sữa có nhiều can - xi. Thế là toại nguyện.

Phọt_Phẹt: Bẩm, ngài luôn luôn chứ ạ?

Phán mọc sừng: Tôi thời khác. Tôi mọc sừng nhưng chăm chỉ uống Vỉagra, một loại thuốc của Tây dương thượng đẳng.

Phọt_Phẹt: Sao ngài không chỉ tôi thuốc đó mà lại dẫn cho thứ sữa nhiều can - xi? Tôi thề rằng sẽ không đem biệt dược này mà rao như bọn bán cao đơn hoàn tán.

Phán mọc sừng: Bình thường anh đi đái có bị ướt giày không mà đòi uống? Giời ạ, sao khổ cái thân tôi.

Phọt_ Phẹt: Thì ra ngài yếu sinh lý nên mới ra nông nỗi. Nghe tôi, cứ để vợ đi với thằng khác là hơn. Chứ bên ngài, mỗi cái việc cầm chim cho đái thì khác gì sống trong hỏa ngục. Vợ ngài cũng như bao nhiêu liền bà khác, họ có quyền miu cầu hạnh phúc cá nhân và bản năng chứ.

Phán mọc sừng: Nhưng tôi uất. Đi với ai không đi lại đi với thằng kia.

Phọt_Phẹt: Thằng kia cũng như bao thằng khác thôi. Có gì mà ngài phải day dứt?

Phán mọc sừng: Anh chả hiểu gì cả. Nhưng thằng kia lại là người tình của tôi. Giời ạ...

Phọt_ Phẹt: Aaaaaaaaaaa. Aaaaaaaaaaa. Aaaaaaaaaa...



Thứ Hai, 19 tháng 10, 2015

Chuyện bắt quàng





Hồi mình ở Cà Mau, lúc ấy ở độc thân trong cơ quan, mỗi khi cảm sốt loàng xoàng thường được bạn Thao nhiệt tình chở đến nhà anh Sáu Sĩ, ở phường 9, trên đường gần đến cái đài Truyền hình bây giờ
Nghe kể, Sáu Sĩ vốn là Thượng sĩ thông tin trong chế độ cũ. Thì biết vậy, chứ cũng không để tâm tìm hiểu thêm. Vì từng quen và nhậu chơi với nhiều ông “chế độ cũ” lưu dung, mà ông nào cũng bảo “tao thượng sĩ thông tin” chứ không ai khai “úy” hay “tá”, và càng không thấy ai “biệt động” hay “dù”. Bản thân Thao thì là con một ông “cuộc trưởng cảnh sát”, chắc cũng cỡ trưởng công an phường bây giờ chăng?
Sáu Sĩ khi ấy mở một phòng thuốc Nam từ thiện, chữa bệnh cho mọi người, người có tiền thì đưa một vài đồng tiền lẻ gì đấy, không có tiền thì OK, miễn!
Nhiều người đến đây để bắt gió, cạo lể, giác hơi, cũng có người đến hốt thuốc Nam. Đó là mớ cành lá thơm thơm, chặt khúc chừng gang tay rải phơi đầy ngay trên cái sân đất nện trước nhà.
Thăm khám và hốt thuốc thì anh Sáu trực tiếp làm, còn bắt gió, cắt lể, giác hơi, là việc của hai thằng con anh, khi chúng vắng thì anh kiêm tất.
Mình chưa dùng thuốc của anh bao giờ, chỉ đến để cạo gió, thỉnh thoảng mới liều mạng giác hơi, còn tuyệt đối không cạo lể.Vì nhát.
Cạo gió xong thì thấy người nhẹ nhàng ngay lúc ấy, chứ về đến nhà thì vẫn vậy. Rồi sau vẫn phải dùng thuốc cảm sốt, hoặc cứ phớt lờ rồi bệnh cũng hết. Thế nhưng, mình và Thao vẫn thích tới đó vừa tán dóc vừa ngửi mùi thuốc Nam thơm thơm dễ chịu. Và, cũng là để gửi thêm lên một chút, gọi là “bù giá” cho phòng thuốc của anh.
Hồi đầu thì đưa trực tiếp, kẻ đưa cũng e lệ mà người nhận cũng ngại ngùng, sau cha con anh sắm một cái thùng tôn dán chữ thập đỏ để giữa nhà. Ai bỏ nhiêu thì bỏ.
Khoảng cuối 1997, một hôm được anh Sáu đích thân ra tay thợ cạo. Phần lưng đã xong, đến lúc anh lật ngửa mình ra để cạo tiếp phía trước, thì nhìn ra tấm ảnh mới treo lủng lẳng trên cây kèo ngang giữa nhà. Chu choa, thật không thể tin nổi, ảnh anh Sáu Sĩ chụp chung với Ba X.
Còn nhớ nhà Sáu Sĩ hồi ấy, cột kèo là những cây đước, cây tràm, có cây để cả vỏ không thèm róc. Nằm ngửa, có thể ngắm cả mảnh trời qua mảng vách lá tơi tả rơi rụng nơi hai bên đầu hồi. Vậy mà giữa mớ cây lá bần hàn chằng đụp ấy là ảnh Sáu Sỹ vòng tay ôm ngang lưng Ba X. Hồi ấy có ấn tượng cha X này trẻ thế mà đã Phó thủ tướng.
Hỏi, ơ thế anh quen cả ông này cơ à. Anh tủm tỉm, ờ ờ à à, tao dượng nó. Sau này mới biết anh nói lảng.
Bây giờ, Sáu Sĩ vẫn làm nghề cũ và ở chỗ cũ, nhưng nhà cửa đã khang trang rồi. Chiến, con anh hồi ấy đang học lớp Đông y nay đã thành Chủ tịch hội Đông y phường. Lại nhớ, nhờ tấm bằng của Chiến, phòng thuốc từ thiện của cha con anh mới hết mang tiếng "phòng thuốc lậu". Mừng cho anh.
***
Sau về Sài Gòn, khoảng 2007 gặp anh Tư Thắng. Nhìn phát biết ngay là anh em Ba X. Vẫn nét mặt ấy, dáng người ấy nhưng cao hơn chút ít. Nước da đen và lam lũ hơn, lưng lại hơi khòng khòng. Anh mở công ty Long Thắng, một công ty xây dựng vào loại thường thường, nhưng có lẽ nhiều quan hệ ở miền Tây. Mình hay đùa công ty anh Long Thắng (đứt phanh) thì anh chỉ còn duy nhất có nước “tiến lên”.
Một buổi trưa, chuyện con cà con kê, hỏi anh về Sáu Sĩ, anh bảo ngày xưa ba má bận công tác, thì gửi tụi tao cho ông ấy nuôi. Sáu Sỹ một họ với tao, chứ không phải “dượng”. Thầm nghĩ, à thì ra lúc trước, Sáu Sĩ muốn tránh cái tiếng “bắt quàng” ngược cho ai chăng?
Hỏi chuyện anh có được “hưởng lộc” từ ông anh? Anh văng tục, bảo có nhờ được cái “con c”. Rồi than, ngay cái chỗ ông già nằm xuống ở Rạch Giá, gia đình muốn tự bỏ tiền xây thành khu tưởng niệm mà (chính quyền) “nó” cứ đòi nâng thành khu di tích, để nhà nước quản lý. Bởi vậy, việc cứ kéo dài mãi chưa xong...
Mời anh đi nhậu, anh kêu xuống bếp dằn bụng cái đã rồi hẵng đi. Cơm cá kho, rau sống và canh bí đao nấu sườn. Ăn xong, kéo nhau ra một quán lá nơi đường Hàm Tử, lúc ấy còn ngổn ngang giải tỏa chưa thành Võ Văn Kiệt bây giờ. Quán này có “ca cổ”, là món anh Tư khoái. Anh rượu vào, ca khá “ngọt”. Phê phê, bạn Tùng móc điện thoại “điều” ca sĩ T.H đến để ca chung. Non tiếng đồng hồ sau, chị T.H mới đến, vì vừa đi vừa hỏi đường vòng vo. Chị này rất hiếm khi chịu đi "hát dạo", mà nếu đã đi, thì mang theo riêng một anh kép chuyên nghiệp, ôm đàn đi theo, chứ không dùng nhạc của nhà hàng.
Lúc đầu còn hát riêng, sau anh chị cùng hát bài Vàm Cỏ Đông, từ buổi quen nhau anh thường kể cho em nghe chuyện màu xanh bên dòng sông Vàm Cỏ. Phách rơi nhịp lạc tùm lum. Mình độp, chưa bao giờ nghe ai hát tệ như ông bà. Chị quay sang mình hỏi nhỏ “Có thật... có thật... em ông ấy không?”, mình bảo thì chị cứ nhìn mặt là biết, việc gì phải hỏi. Chị lại bảo vì hát chung với ông này ông nọ, nên “run thấy bà”.
Bữa đó, bọn mình mời nhậu, nhưng anh Tư giành trả tiền. Lúc về, hỏi sao bỗng ca dở tệ, anh văng đm, lần đầu tiên được hát chung với Nghệ sĩ nhân dân, tao “khớp”. 
***
Đến 2012, nghe nói “đồng chí X” suýt bị “kỷ luật”, nhưng lại đạt 74%  phiếu tín nhiệm ở vòng trong. Rồi 2013, khi Quốc hội lần đầu tổ chức bỏ phiếu tín nhiệm, một anh nghị “cất lên những lời có cánh”, đòi Ba X phải từ chức. Đến lúc Ba X độp lại thì anh nghị này lại ngọng nghịu vuốt xoa.... Ô hô, cuộc cờ rối như canh hẹ, chả biết lối nào mà lần.
Lúc ấy cũng bày đặt nhân tình thế thái, mình “dịch” bài Thu Hứng của Đỗ Phủ thành ra thế này:
Văn đạo Trường An tự dịch kỳ
Bách niên thế sự bất thăng bi
Công hầu đệ trạch giai tân chủ
Văn võ y quan dị tích thì
Trực bắc quan san kim cổ chấn
Chinh tây xa mã vũ thư trì
Ngư long tịch mịch thu giang lãnh
Cố quốc bình an hữu sở ti
Nghe trộm Tràng An đấu cờ người
Trăm năm sự thế chẳng được vui
Biệt thự, văn phòng thay “đầy tớ”?
Công xa, áo mũ đổi đười ươi?
Lên non phía Bắc khua chuông mõ
Xuống ngựa miền Tây gượng nói cười
Sông thu lạnh vắng rồng cùng cá
Trông cây ta lại nhớ đến Người
Sau nghĩ lại, lúc này, nhiều doanh nghiệp phá sản, lắm xếp muốn bàn giao quách để “hạ cánh an toàn”. Tất nhiên là kèm theo một đống nợ, thành ra chả thằng “đệ” nào chịu nhận, mặc dù trước đó, tưởng chúng có thể đánh nhau vỡ đầu để tranh nhau ghé mông vào cái ghế của xếp. Ừ thì Chính phủ thì chẳng qua cũng là một đại doanh nghiệp, anh làm hỏng thì đích thân anh phải sửa, chứ tình hình bí bét, có chú nào dám xung phong lãnh cục nợ tổ bố? 
Một năm sau. Quốc hội, rồi nghe nói trong BCT lại bỏ phiếu tín nhiệm. Thì anh Ba X lại được tín nhiệm vào loại nhất.

Ừ ừ, có thế chứ! Anh Ba X chả phải dạng vừa đâu. Dám đương đầu và vượt qua sóng gió, kể cũng là người rất có bản lĩnh, thật đáng ngưỡng mộ!



Thứ Hai, 12 tháng 10, 2015

Công nghệ hỏa xa Tàu và chuyện ném đá nước sơn





Mẫu tàu cao tốc Cát Linh - Hà Đông vừa lộ diện, dư luận đã “dậy sóng” chê tơi tả.


Nhân đọc bài “Có phải Trung Quốc cho vay nên phải mua tàu của Trung Quốc?” trên  blog Người đồng bằng , bài do ông Trần Văn Thọ - một chuyên gia kinh tế đang giảng dạy tại đại học Waseda, Tokyo, Nhật -  viết.

Đề cập tới sự kiện “Việt Nam mua 13 đoàn tàu của Trung Quốc cho tuyến đường sắt Cát Linh – Hà Đông”, ông Thọ cho rằng “Trong dự án 13 đoàn tàu nói trên được biết Trung Quốc cho vay vốn và đặt điều kiện phải dùng tiền đó mua tàu của họ. Bộ trưởng Đinh La Thăng bảo rằng nước nào cho vay cũng đặt điều kiện như vậy, chẳng hạn Nhật Bản hay Hàn Quốc cũng như vậy. Điều này hoàn toàn sai”. 
Và “Trước khi chứng minh nhận định đó là không đúng, ta có thể đặt thêm một câu hỏi nữa: Nếu các nước khác cũng có cùng điều kiện đó, tại sao lại chọn Trung Quốc? Công nghệ của Trung Quốc cao hơn?”.
Tiếp theo, ông Thọ chỉ ra những ưu việt từ nguồn vốn ODA của Nhật và từ đó người đọc sẽ tự đặt ra câu hỏi: Nếu công nghệ của Trung Quốc không cao hơn, tại sao chúng ta không sử dụng ODA và công nghệ Nhật?.
Sự thực thì hiện nay, song song với dự án metro Hà Nội sử dụng nguồn vốn ODA Tàu, thì dự án tuyến metro Bến Thành – Suối Tiên tại Tp. HCM đang sử dụng vốn ODA của Nhật và Nhật vẫn buộc ta vẫn phải mua tàu của họ. Tôi không đủ thẩm quyền phán xét ông bộ trưởng Thăng nói đúng hay sai, nhưng thực tiễn đang là như ông Thăng nói. Nhật cũng đặt điều kiện như Trung Quốc, và dự án này cũng đội giá như dự án kia (tăng 51% hôm 7-10-2015).
Các đầu tầu toa tầu do Nhật cung cấp đã được trưng bày cách đây nhiều tháng ở Sài Gòn để nhận góp ý, nhìn cũng giống như hàng Trung Quốc đang trưng bày ở Hà Nội thôi. Cái khác là màu sơn đẹp hơn chứ không giống màu sơn đã trở thành thương hiệu của Mai Linh đang bị “dư luận” ném đá tơi tả.
Nhưng đó mới chỉ là những nhận xét đầy cảm tính bề ngoài, còn chất lượng bên trong, là công nghệ thì sao?
Ông Thọ đặt câu hỏi “liệu công nghệ (metro) củaTrung Quốc có cao hơn”? Điều thú vị nằm ở chỗ, là một chuyên gia kinh tế nhưng  ông Thọ không phân tích giá thành mà lại đặt câu hỏi về công nghệ.
Câu hỏi của ông Thọ thực ra cũng chính là câu tôi tự hỏi khi viết entry cong và cớn. Khi đó tôi cũng đánh giá thấp công nghệ đường sắt Trung Quốc (trong đó có metro) và tạm bằng lòng rằng thôi thì  “tiền nào của đó”, vì so thử giá thành metro của Tàu (ở Hà Nội) với metro của Nhật (ở Sài Gòn), thì giá thành tuyến metro Hà Nội thấp hơn.
Cho đến cách đây khoảng hơn tuần lễ, khi xem kênh Địa lý quốc gia (National Geographic Channel) trên TV, tôi mới được “thông não” rằng Trung Quốc đang là quốc gia dẫn đầu thế giới về công nghệ đường sắt cao tốc.
Hiện nay, Trung Quốc sở hữu 17.000 km đường sắt cao tốc, chiếm hơn 50% tổng chiều dài đường sắt cao tốc của thế giới.
Về tốc độ, tàu thương mại đạt tốc độ cao nhất thế giới hiện nay là tàu đệm từ của Trung Quốc chạy hàng ngày tại Thượng Hải: 431km/h.
Kỷ lục về tốc độ hoạt động tối đa nhanh nhất (MOR) hiện nay là 350 km/h tại tuyến đường sắt Bắc Kinh - Thiên Tân: đi hết 30 phút trên tuyến dài 117km.
Những số liệu trên cho thấy, công nghệ đường sắt của Trung quốc hiện nay (trong đó có metro) không phải dạng vừa đâu.
Vậy mà chỉ cách đây vài năm, đường sắt cao tốc vẫn là thế mạnh truyền thống của người Nhật. Và ngay cả bây giờ, người Nhật vẫn giữ kỷ lục về tốc độ cao nhất, khi tháng 4-2015 vừa rồi họ cho chạy thử một đầu máy đệm từ chạy trên đoạn đường 1,8km hết có 10 giây 8, đạt vận tốc 603 km/h (nhưng chỉ là thử nghiệm). Ngoài ra, lợi thế lớn nhất của công nghệ đường sắt cao tốc Nhật là đã hoạt động an toàn mà không có sự cố lớn nào trong suốt hơn nửa thế kỷ qua.
Bất chấp điều đó, hiện trên thế giới có đến hơn 50 nước quan tâm đến công nghệ đường sắt cao tốc của Trung Quốc, và người Nhật vẫn đang mất thị trường xây dựng đường sắt cao tốc vào tay người Tàu.
Tại sao? Tại vì công nghệ tàu cao tốc của người Tàu bây giờ chẳng những không thua người Nhật và các mặt khác thì lại còn vượt trội, nhất là về giá thành. Và nói vòng vo ODA ưu đãi hay đặt điều kiện gì đó như ông Thọ thì cuối cùng cũng nên “quy ra thóc” xem sao, tức là giá thành – đắt hay rẻ.
Không biết các nước dưới đây có lắm chuyên gia kinh tế và chuyên gia “bài Tàu” như ở ta không? Nhưng thay vì chọn Nhật thì họ cứ khăng khăng chọn Trung Quốc làm đường sắt cho họ:
Vài con số thống kê:
Trong năm 2014, tổng số các dự án xây dựng đường sắt cao tốc ở nước ngoài mà các công ty Trung Quốc tham gia là 348 dự án.
Tháng 12-2014, Trung Quốc và Thái Lan đã đạt được thỏa thuận chung về dự án xây dựng 734km đường sắt cao tốc từ Nong Khai tới Bangkok.
Ngày 1-10-2015, Indonesia cho biết sẽ hoàn tất đàm phán với Trung Quốc về dự án xây dựng tuyến đường sắt cao tốc dài 150 km nối giữa Jakarta và Bandung.
Chỉ vài ngày trước chuyến thăm của Tập Cận Bình, Mỹ đã dành cho Công ty CRG (Trung Quốc) hợp đồng xây tuyến đường sắt cao tốc 370km nối giữa Las Vegas và Los Angeles. Công ty này cũng là nhà thầu xây tuyến đường sắt cao tốc dài 770 km nối giữa hai thành phố Moscow và Kazan của Nga.
Vậy mới biết người Mỹ họ thực dụng, đấu đá nhau ở đâu thì đấu đá, chứ trên mặt trận kinh tế, cứ có lợi cho họ là họ OK.
Ừ thì thế giới người ta chọn đường sắt cao tốc công nghệ Tàu, kệ người ta. Hiện nay Tàu còn đang ve vãn ta đoạn Hà Nội – Lào Cai, còn việc nghiên cứu dự án đường sắt cao tốc xuyên Việt (mới được tái khởi động) vẫn đang nghiêng về phía người Nhật kia mà. Ta nghèo thì nghèo thật, nhưng cóc cần rẻ, đi tàu Nhật thiên hạ mới khen là sang hơn Mỹ.
Đó là vì vẫn có những e ngại về mặt “dư luận xã hội” gọi nôm na là “ném đá”, nếu ai đó chọn người Tàu làm đối tác, trong đó hiển nhiên phải kể đến sự “đóng góp”của báo chí và các giáo sư chuyên phán trong vai người định hướng dư luận.
Ngoài ra thì vẫn có một chút lo ngại vu vơ về tính an toàn về kỹ thuật và vận hành thiết bị của Tàu. Và vẫn có những lo ngại chính đáng về việc sẽ phải nhận một lượng lớn lao động Trung Quốc, làm gia tăng những khó khăn về công ăn việc làm cho người lao động trong nước.
Và trên tất cả, là những lo ngại không thể bỏ qua: an ninh quốc phòng. Người Thái, người Indo và người Mỹ họ ở xa, còn ta ở sát vách. “Yêu” nhau hay không “yêu” nhau, cứ rào dậu cho kín là hơn. Đắt cũng phải chịu.
Viết đến đây, thì lòi đuôi kẻ viết entry này cũng thuộc típ “bài Tàu”.
Vâng. Nhưng kính thưa các chuyên gia:
“Bài Tàu” theo kiểu  thoát sư tử đá  hay đua nhau “tương gạch” vào nước sơn của cái đầu máy toa xe metro thì tôi chê.



Thứ Tư, 7 tháng 10, 2015

Cụ Tiên Điền bênh gái



Entry này có thể coi là một bổ túc cho bài Câu đối cụ Thợ Dìu, ai ưng thì mở ra đọc kèm, như ăn mắm với rau. Nhưng, xin đặt cái tựa như trên để gây sốc.  
1.     Thêm một câu đối nửa Nôm nửa Hán
Hôm trước đã giới thiệu một câu đối kỳ tài của cụ Tam Nguyên Yên Đổ, viết mừng một ông người làng mần nhà mới:
“Nhất cận thị, nhị cận giang, thử địa tích tằng xưng tị ốc
Giàu ở làng, sang ở nước, nhờ trời nay đã vểnh râu tôm”.
Tưởng đã là độc nhất vô nhị. Nhưng còn một câu khác cũng tài tình không kém, và được cho là do chính vua Khải Định làm ra. Nhân vừa đọc lại cuốn Hơn nửa đời hư của cụ Vương Hồng Sển, xin dẫn ra đây:
"Xuân xanh tuổi ngoài đôi chục, chơi đục trần ai, khi bài khi bạc, khi tài bàn vác, khi tổ tôm quanh, khi năm canh ngôi nhà hát, khi gác cổ ả đào, khi ghẻ tàu con đĩ xác, khi nằm rạp thuốc phiện tiêm, hoanh ra dáng rạng ra rồng. ngông ra phết cóc biết chi tồi, miệng én đưa qua mùi gió thoảng.
Quốc gia lịch tứ thiên dư, do truyền nhân vật, như Tô như Duật, như Phật Tứ Quân, như Trần Quốc Tuấn, như Phạm Công Thượng tướng quân, như Bạch Vân phu tử, như ngự sử Lê Cảnh Tuân, như công thần Nguyễn Công Trứ, tài chi tuấn thời chi thế, thế chi sử, khỉ nhưng nhiên phủ, thần long đắc vũ tiện vân đằng”.
Trong cuốn sách nói trên (chương 17), cụ Vương cho biết, cụ lấy tư liệu từ cuốn "Giai thoại văn chương Việt Nam” của nhà văn Thái Bạch do nhà Sống Mới in năm 1972 tại Saigon.
Cụ Vương bình luận, và cũng có chút thắc mắc:
“Vế trước rặt nôm, vế sau ròng chữ vừa duyên dáng vừa tài tình, vừa có một khiếu trào lộng không ai hơn. Nếu phải đó là của ngài Bửu Đảo, sau nầy là Hoàng Tôn Tuyên Hoàng đế, trong Nam thường biết là ông vua Khải Định, thì đáng phục biết mấy, nhưng tại sao khi trên đất Pháp, khi đốc lý Paris xin một câu ghi trong quyển sổ vàng, ông đứng cả canh mà rặn không ra?”.
Trong khi cụ Vương có ý chê hành vi của cụ Khải Định trên đất Pháp thì bên Tàu,
2.     Cụ Nguyễn Du “bênh” người đẹp Dương Quý Phi
Nhân vật Dương Quý Phi có vài điểm tương đồng nhân vật Vương phi Đặng Thị Huệ bên ta.
Dương Quý Phi bị coi là mầm mống sinh ra đại loạn, gây tai họa cho nhà Đường bên Tàu. Bên ta, Đặng Thị Huệ bị coi là “tác giả” của nhiều biến cố thời vua Lê chúa Trịnh, dẫn đến cơ đồ hơn hai trăm năm của nhà Trịnh sụp đổ.
Dương Quý Phi có anh trai là Dương Quốc Trung, còn Đặng Thị Huệ có em trai là Đặng Lân (Đặng Mậu Lân). Trung và Lân giống nhau ở chỗ bị đánh giá là chuyên cậy thế vua chúa làm những việc vô đạo, xa hoa, càn rỡ, gây ra nạn “kiêu binh”, làm tổn hại tới vận mệnh triều đình.
Kết cục Dương Quý Phi buộc phải thắt cổ mà chết, còn Đặng Thị Huệ thì tự uống độc dược mà chết.
Bài thơ Dương Phi Cố Lý, cụ Nguyễn Du viết vào năm 1789, trên đường đi sứ Tàu (Bắc hành tạp lục), chỉ cách vài năm sau cái chết của Đặng Thị Huệ.
Phiên âm Hán Việt:
Sơn vân tước lược ngạn hoa minh,
Kiến thuyết Dương Phi thử địa sinh.
Tự thị cử triều không lập trượng,
Uổng giao thiên cổ tội khuynh thành.
Tiêu tiêu Nam nội bồng cao biến,
Mịch mịch Tây Giao khâu lũng bình
Lang tạ tàn hồng vô mịch xứ,
Đông phong thành hạ bất thăng tình
Nghĩa:
Núi mây thưa thớt hoa rực rỡ bên bờ,
Nghe nói đây là quê của Dương Phi.
Chỉ tại triều đình như bầy phỗng đá, 
Ngàn năm cứ đổ oan cho sắc đẹp
Cung Nam buồn cỏ bồng mọc ngập lối
Tây giao vắng, gò nay thành bình địa. 
Phấn lạt hương phai biết tìm đâu,
Gió Đông dưới thành gợi nỗi niềm.
Trong bài có hai câu Tự thị cử triều không lập trượng,Uổng giao thiên cổ tội khuynh thành. Khác với “dư luận xã hội”, cụ Tiên Điền không “ném đá” Dương Quý Phi mà chỉ rõ, nhà Đường mất nước là do đám quan lại triều đình quanh năm bày mưu tính kế, ăn hại đái nát, nhưng đến lúc cần hành động thì hóa ra toàn là tượng gỗ.
Không biết khi viết bài này, cụ Tiên Điền có liên tưởng đến trường hợp Đặng Thị Huệ với họ Trịnh hay không?
Soi trên mạng có bản dịch của cụ Quách Tấn, xin trân trọng giới thiệu:
Mây ngàn hoa bến nước lung linh,
Dương Quí Phi xưa đất ấy sinh.
Bởi nỗi cả triều tài phỗng đá,
Ðể cho muôn thuở tội nghiêng thành.
Cấm cung bỏ phế, bồng hiu hắt,
Mồ cũ san bằng, cảnh vắng tanh.
Gió lạnh dưới thành ngơ ngẩn bóng,
Tìm đâu cho thấy cánh hoa tàn.
Còn dưới đây là cụ Lý tự dịch. Cũng xin chỏng gọng giới thiệu:
Phiên âm:
Sơn vân tước lược ngạn hoa minh,
Kiến thuyết Dương Phi thử địa sinh.
Tự thị cử triều không lập trượng,
Uổng giao thiên cổ tội khuynh thành.
Tiêu tiêu Nam nội bồng cao biến,
Mịch mịch Tây Giao khâu lũng bình,
Lang tạ tàn hồng vô mịch xứ,
Đông phong thành hạ bất thăng tình
Dịch (1)
Bờ hoa rực rỡ núi đùa mây
Thấy bảo Dương phi sinh đất này
Một thủa triều đình toàn tượng đứng
Ngàn năm người ngọc chịu tai bay
Lặng ngắt Tây Giao gò hóa phẳng
Đìu hiu Nam nội cỏ mọc dày
Cánh hồng tàn rụng tìm đâu thấy?
Dưới thành duy có gió Đông hay...
Đang cáu, dịch thêm phát nữa (2):
Lưa thưa mây núi, bến hoa ngời
Quê em đó phỏng? Ái thương ôi!
Triều đình mà lú toàn tượng đái
Thành nghiêng hồn lở đứa hoa (k)hôi?
Đìu hiu Nam nội dày đặc cỏ
Lặng ngắt Tây Giao lộn cả đồi
Mây trôi bèo dạt về đâu nhỉ?
Gió Đông sùi sụt mãi chưa nguôi.