Thứ Năm, 21 tháng 7, 2016

Hai nhà “tiên phong” dùng thuật ngữ “quốc ngữ”





-------------- 
Ai là người đầu tiên dùng hai chữ “quốc ngữ” để chỉ chữ Việt ngày nay?
Xin trả lời ngay, cứ theo các tài liệu hiện có trên Internet, thì người đầu tiên dùng hai chữ “quốc ngữ” để gọi thứ chữ dùng để phiên âm tiếng Việt có nguồn gốc Latin như ngày nay ta đang dùng là ông Trương Vĩnh Ký.
Tác giả Phạm Thế Ngũ, trong cuốn Việt Nam văn học sử giản yếu tân biên, (quyển 3, Văn học hiện đại (1862-1945), California: Nxb Đại Nam tái bản không đề năm, tr. 67.) cho biết:
 “Trên Gia Định Báo số 4, ngày 15-4-1867, Pétrus Ký (1837-1898) đã viết một bài khuyến khích việc học thứ chữ mới, trong đó có đoạn như sau:
 “…Thầy Ký dạy học có làm sách mẹo [văn phạm] dạy tiếng Lang Sa [Pháp], có làm ra chữ quốc ngữ [sic] để người ta dễ học. Những người ký lục [thư ký] giỏi cùng siêng năng sẽ lo mà học chữ quốc ngữ vì có hai mươi bốn chữ và viết đặng muôn ngàn chuyện, chữ chi mắc rẻ [khó dễ] cũng viết đặng, không phải như chữ Tàu học già đời mà còn có chữ lạ viết không ra, ở đây có Phủ Tường [Tôn Thọ Tường] đã học đặng chữ quốc ngữ, viết đặng, đọc đặng. Chữ ấy chẳng khó đâu, ra công học một đôi tháng thì thuộc hết…”
Như vậy, theo Phạm Thế Ngũ, thuật ngữ "quốc ngữ" dùng để chỉ “chữ viết của tiếng An Nam bằng mẫu tự Latin” được ông Pétrus Ký “khai sinh” trên Gia Định Báo ngày 15-4-1867.
Tuy nhiên, chưa rõ trong cuốn sách của Phạm Thế Ngũ có cung cấp bản coppy số Gia Định Báo ngày 15-4-1867 để người đọc kiểm chứng hay không.
Người tiếp theo là một ông Tây, đó là ông Ernest Potteaux ( khá nhiều tài liệu biên sai tên ông thành Poteau). Ông này là thông ngôn hạng nhất thuộc Soái phủ lại bộ thượng thơ Nam Kỳ, cùng thời với Trương Vĩnh Ký. Ernest Potteaux cũng là “tiền bối” của Trương Vĩnh Ký trong việc xuất bản và điều hành tờ Gia Định báo trên cương vị Chánh Tổng tài (ngày nay gọi là Tổng biên tập).  Potteaux giữ nhiệm vụ này trong suốt hơn 4 năm, từ khi Gia định báo ra số đầu tiên (15-4-1865) cho đến 16-9-1869 mới giao lại cho Trương Vĩnh Ký.
Nhân đây cũng phải nói thêm, nhiều tài liệu theo nhau cho rằng tờ Gia Định báo ra đời là do: “Trương Vĩnh Ký yêu cầu lập một tờ báo chữ quốc ngữ khi thống đốc Keguda mời cụ ra làm quan”, đề nghị ấy được nhà cầm quyền chấp thuận nhưng lại cấp phép cho Ernest Potteaux chứ không phải cho họ Trương. Tuy nhiên, trên thực tế không hề có một ông Keguda nào là thống đốc Nam kỳ vào cái thời bấy giờ (tra cứu danh mục thống đốc Nam kì).
Về mặt văn bản còn lưu giữ được đến ngày nay, thì quả là E. Potteaux đã dùng hai chữ “quốc ngữ” để chỉ “chữ viết của tiếng An Nam bằng mẫu tự Latin” vào năm 1869, trong cuốn Lịch Annam thuộc về sáu tỉnh Nam Kì tuế thứ Kỷ Tị ấn hành năm 1869. Cuốn lịch tiếng Việt này hiện lưu trữ tại thư viện đại học Harvard.
Trang bìa cuốn Lịch Annam thuộc về sáu tỉnh Nam Kì tuế thứ Kỷ Tị ấn hành tại Saigon năm 1869.


 
Tại trang 10 của cuốn sách, E. Potteaux đã dùng hai chữ “quốc ngữ” để chỉ “chữ viết của tiếng An Nam bằng mẫu tự Latin”.

Điều ngồ ngộ là cũng trong trang 10 nói trên Potteaux ghi rõ: “Trong lịch này có ba thứ chữ, là chữ Langsa, chữ Annam và chữ quốc ngữ”. Chữ Nôm rõ ràng được Potteaux gọi là “chữ Annam”, hiểu theo nghĩa đen thì bản thân Potteaux cũng thừa nhận chữ Nôm đích thực là quốc ngữ của nước Việt Nam thời bấy giờ. Tuy vậy, như đã biết, “chữ Annam” - chữ của nước Nam lại không được Potteaux hay Trương Vĩnh Ký gọi là “chữ quốc ngữ”.
Vào những năm 1867 hay 1869 thì cái “chữ viết của tiếng An Nam bằng mẫu tự Latin” chỉ có một số rất-rất ít người biết sử dụng. Tại sao Trương Vĩnh Ký và Ernest Potteaux lại  “lớn gan” gọi đó là “chữ quốc ngữ”?
Thực ra, cả Trương Vĩnh Ký và Ernest Potteaux đều thừa biết trong lịch sử tiếng Việt, trước khi có hệ chữ viết sử dụng các mẫu tự Latin, tên gọi “quốc ngữ” (như trong “Bạch Vân quốc ngữ thi tập” của Nguyễn Bỉnh Khiêm) hoặc cách gọi khác là “Quốc âm” (như “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi) đã từng được người Việt dùng để chỉ chữ Nôm, một loại văn tự mượn dạng chữ Hán để ghi âm tiếng Việt cổ, được phát triển vào khoảng thế kỷ XIII và đến thời Trương Vĩnh Ký vẫn còn sử dụng.
Trương Vĩnh Ký và Ernest Potteaux cũng quá hiểu rằng thứ chữ mà họ gọi là “quốc ngữ” vốn do các giáo sĩ phương Tây tạo ra (vào khoảng đầu thế kỷ XVII) chỉ với mục đích duy nhất là để truyền đạo. Trong suốt hơn 200 năm tiếp theo, nó chỉ được sử dụng quanh quẩn trong một phạm vi hẹp là các nhà thờ Thiên chúa giáo hay các xứ đạo. Và chỉ đến tháng 4 năm 1865, khi chính quyền thực dân Pháp ở Nam Kì cho phép ra đời tờ báo đầu tiên “in bằng tiếng Annam thông thường” là tờ Gia Định báo, thì cái “chữ quốc ngữ”, như tên gọi bây giờ, mới chính thức bước chân vào xã hội dân sự Nam Kỳ.
Và phải mất thêm 13 năm nữa để “phổ cập”, dẫu chỉ hạn hẹp trong một số tầng lớp dân chúng Nam Kỳ, thứ chữ “có nguồn gốc Latin” này mới được nhà cầm quyền thực dân chính thức gọi là “chữ quốc ngữ” theo một Nghị định do Thống đốc Nam kỳ là đô đốc hải quân J. Lafont ký ban hành ngày 6-4-1878. Nguyên văn Nghị định theo GS Nguyễn Văn Trung, như sau:
“Xét rằng chữ viết của tiếng An Nam bằng mẫu tự Latin ngày nay đã khá phổ thông trong các tỉnh Nam kỳ, là thứ chữ dễ học hơn chữ Nho và tiện lợi nhiều so với chữ Nho trong việc làm cho những giao dịch giữa các quan cai trị với dân bản xứ được trực tiếp hơn. Xét rằng việc dùng hợp pháp thứ chữ đó chỉ làm cho dân chúng dễ đồng hóa với chính quyền ta, và vì thế thật là một đường lối chính trị tốt nếu bắt buộc dùng nó trong các giao dịch chính thức. Tuy nhiên, xét rằng một cải cách quan trọng như thế không thể thực hiện được ngay tức khắc, và để thực hiện nó cần có sự cộng tác của những tầng lớp lãnh đạo trong dân chúng. Chiếu đề nghị của quyền giám đốc nội vụ, sau khi hội đồng tư vấn đã được hội ý kiến, nay ra nghị định:
Điều 1: kể từ ngày 1-1-1882 tất cả những văn kiện chính thức, nghị định, quyết định, sắc lệnh, phán quyết, chỉ thị… sẽ được viết, ký và công bố bằng chữ mẫu tự Latin.
Điều 2: kể từ ngày trên, không một tuyển dụng nào được thi hành, không một thăng trật nào được cho phép, trong ngạch phủ, huyện, tổng đối với bất cứ ai không ở trong tình trạng viết được chữ quốc ngữ.”
Như vậy, ít nhất vào trước thời điểm ban hành Nghị định nói trên thì không thể gọi “chữ viết của tiếng An Nam bằng mẫu tự Latin” “chữ quốc ngữ”, lý do đơn giản là nó chưa được chính quyền thời đó công nhận và thực tế tầm phổ cập cũng chưa đủ rộng để có thể gọi là chữ viết của cả một quốc gia.
Mặt khác, khi Triều đình Huế và Pháp ký Hòa ước Patenôtre vào năm 1884 thì nước Pháp lại được toàn quyền đại diện cho nước Annam trong mọi quan hệ ngoại giao. Như vậy, trong mọi giao thiệp với nước ngoài, thì “quốc ngữ” ở đây chính xác phải là tiếng Pháp và chữ Pháp, chứ không phải “chữ viết của tiếng An Nam bằng mẫu tự Latin”.
Hơn nữa, như điều 1 của Nghị định 6-4-1878 quy định, kể từ ngày 1-1-1882 thì mới bắt buộc phải sử dụng phổ cập thứ chữ này trong toàn bộ những văn kiện của nhà nước (nhưng cũng chỉ trong phạm vi xứ Nam Kì thuộc địa, còn ở Bắc và Trung thì chữ Hán vẫn được sử dụng trong mọi văn kiện của từ Triều đình trung ương cho đến các công sở địa phương và trong mọi giao dịch dân sự thông thường).
Vậy thì kể cả sau khi thuật ngữ “chữ quốc ngữ” dùng để chỉ “chữ viết của tiếng An Nam bằng mẫu tự Latin” đã được chính quyền thực dân Pháp chính thức công nhận qua Nghị định ngày 6-4-1878, thì trên thực tế, nước Annam mà đại diện là Triều đình Huế, vẫn cứ sử dụng một thứ “quốc ngữ” khác, đó là chữ Hán. Thậm chí, mãi đến năm 1919, việc học tập và thi cử (kì thi quốc gia như cách nói ngày nay) bằng chữ Hán mới bị bãi bỏ hoàn toàn và thay thế bằng “chữ quốc ngữ”.
Ấy thế mà các vị Trương Vĩnh Ký và Ernest Potteaux đã gọi chữ viết của tiếng An Nam bằng mẫu tự Latin” là “chữ quốc ngữ” từ những năm 1867 hay 1869. Kiểu gọi bừa bãi như vậy rõ ràng là “áp đặt” “lạm ngôn”, hoàn toàn không “chính danh” và cũng không tương xứng với danh hiệu “học giả” (thậm chí là “bác học”) mà xã hội đã gán cho họ. (Cũng may cho họ là vào thời điểm ấy, nước ta chưa có mạng mẽo và cũng không có nhiều học thật học giả như bây giờ, chứ không thì gạch đá để đâu cho hết?)
Thực ra Trương Vĩnh Ký và Ernest Potteaux hoàn toàn chẳng phải là những nhà “tiên tri”, họ đơn giản chỉ là những kẻ thừa hành được chính quyền thực dân phân công đi tiền trạm trong công cuộc “chinh phục” xứ sở Annam bằng những “con chữ gốc Latin” mà thôi.
Là vì, từ những năm 1864, thống đốc Nam Kì P.M de la Grandière đã từng kỳ vọngTrong chưa đầy một năm, chúng ta sẽ có ít nhất một nghìn thanh niên Annam biết đọc và biết viết ngôn ngữ của họ bằng mẫu tự Latin; nhờ đó chúng ta sẽ tống một cú đánh chết người vào chế độ quan lại, và chúng ta sẽ tự mình gỡ bỏ được lớp văn thân là các kẻ luôn luôn có khuynh hướng gây xáo trộn” (Milton E Osborne – Giáo dục và chữ quốc ngữ – sự phát triển một trật tự mới 1859-1905 - Ngô Bắc dịch)
Và ngay sau khi chiếm toàn bộ Nam kỳ (1867), người Pháp đã nhận ra ngay vai trò lợi hại của thứ chữ Việt có xuất xứ từ nhà thờ này và quyết sử dụng nó như một công cụ cai trị, nhằm xóa sổ tầng lớp văn thân yêu nước Việt Nam. Chính vì vậy người Pháp đã mưu tính để nó trở thành “quốc ngữ” của người Việt. 
Thế nên chả cần phải đợi đến khi thứ “chữ viết An Nam bằng mẫu tự Latin” được chính quyền công nhận hay chí ít, nó phải được phổ cập một cách xứng đáng, phải có những kẻ “tiên phong”, tức là đi trước ông chủ mà gọi thứ chữ này là “chữ quốc ngữ”.


--------


Thứ Hai, 4 tháng 7, 2016

Tại sao Bob Kerrey không bị ra tòa? Giới thiệu sách: Phía sau cuộc chiến


Chính sách che dấu tội ác chiến tranh của Nhà Trắng.

-----------
Hơn nửa triệu lính Mỹ như Bob Kerrey, khi vác súng sang Việt Nam đều được chính phủ Hoa Kỳ tuyên truyền là để “bảo vệ thế giới thế giới tự do” hay là “bảo vệ người dân” khỏi “hiểm họa cộng sản”. Nhưng không ít kẻ trong số đó thật sự là những tên tội phạm chiến tranh với hàng loạt vụ giết hại hay tra tấn dã man thường dân Việt Nam.
Luật pháp Hoa Kỳ và cả luật pháp quốc tế đều quy định quân đội buộc phải điều tra các báo cáo về tội ác chiến tranh (War Crimes) và truy tố những kẻ phạm tội. Nhưng tại sao những tội phạm chiến tranh như Bob Kerrey lại không bị ra tòa?
Để trả lời câu hỏi trên, xin mời đọc cuốn Phía sau cuộc chiến (Cựu binh Mỹ đối diện sự thật về tội ác chiến tranh ở Việt Nam) tác giả Deborah Nelson, do NXB Nhã Nam ấn hành năm 2010 (nguyên tác tiếng Anh The War Behind Me: Vietnam Veterans Confront the Truth About U.S. War Crimes ). 
Phía sau cuộc chiến được viết dựa trên một kho lưu trữ đã được giải mật của chính quân đội Hoa Kỳ và các cuộc phỏng vấn với nghi phạm, người tố cáo, người sống sót, chỉ huy cũ, các nhà điều tra, và cả các quan chức Lầu Năm Góc. Cuốn sách phơi bầy thêm hàng loạt những tội ác chiến tranh mà binh lính Mỹ đã gây ra trong suốt cuộc Chiến tranh Việt Nam, nhưng đã bị chính quyền và quân đội Hoa Kỳ cố tình bưng bít. 
Nói đến những tội ác chiến tranh của quân đội Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam, người ta thường nghĩ ngay đến vụ thảm sát Mỹ Lai. Tại ngôi làng nhỏ này, vào ngày 16-3-1969, lính Mỹ đã sát hại 504 thường dân, trong đó phần lớn là phụ nữ và trẻ em. Nhiều người, trước khi bị giết còn bị cưỡng bức, quấy rối, tra tấn hoặc cắt xẻo các bộ phận trên cơ thể.
Vụ Mỹ Lai được dư luận biết đến lần đầu tiên vào ngày 12-11-1969 sau khi hãng Dispactch News Service công bố một bài điều tra của nhà báo Seymour Hersh (giải Pulitzer 1970) với những hình ảnh chi tiết ghê rợn của vụ thảm sát. Dưới sức ép của công luận, Lục quân Hoa Kỳ đã phải tiến hành điều tra và bốn tháng sau đó buộc phải xác nhận là việc thảm sát là có thật và đã bị cố ý che dấu. Kết quả, ra trước tòa chỉ có một quân nhân Hoa Kỳ là trung úy William Calley phải trả cái giá cho việc giết hại 504 nạn nhân vô tội bằng một án tù chung thân. Án này, hai ngày sau đó lại được đích thân Tổng thống Nixon can thiệp để rồi Calley chỉ còn phải ngồi tù có 4 tháng rưỡi, hàng đêm vẫn có bạn gái đến thăm.
Nhưng còn có rất nhiều những vụ thảm sát thường dân Việt Nam do lính Mỹ gây ra, trước và sau vụ Mỹ Lai, đã bị chính phủ và quân đội Hoa Kỳ tìm mọi cách che dấu và làm cho chìm xuồng.
Sau vụ Mỹ Lai, Bộ Tham mưu Lục quân Hoa Kỳ buộc phải lặng lẽ thu thập các tài liệu về những tội ác, những hành động dã man quân đội Hoa Kỳ thường xuyên gây ra tại Việt Nam. Sau 5 năm làm việc âm thầm, họ tập hợp được một hồ sơ gồm 9.000 trang bằng chứng, liên quan đến vài trăm tội ác chiến tranh do quân đội Mỹ gây ra ở Việt Nam với quy mô lớn. Tuy vậy, khác với vụ Mỹ Lai, các cuộc điều tra này không được phơi bày công khai và cũng không đưa đến sự truy tố bất kỳ kẻ chủ mưu quan trọng nào.
Về thực chất, hoạt động điều tra nói trên của Lục quân Mỹ không nhằm giải quyết hoặc ngăn ngừa tội ác chiến tranh, mà là phục vụ cho chính phủ Hoa Kỳ như là một hệ thống cảnh báo sớm nhằm bưng bít các vụ việc. Ngay cả các quan chức Lầu Năm Góc cũng rất ít người biết về nó. Chỉ đến khoảng năm 1990, khi quân đội giải mật chúng, các tài liệu này mới được đưa ra phòng Hồ sơ Lưu trữ Quốc gia. Lại thêm hàng chục năm nữa trôi qua trước khi một vài học giả như Nick Turse (một sử gia của quân đội Mỹ) và nhà báo như Deborah Nelson biết đến sự tồn tại của chúng. 
Qua 9.000 trang hồ sơ, Nick Turse  và Deborah Nelson đã phát hiện ra rằng các điều tra viên quân đội đã ghi nhận ít nhất 500 cáo buộc giết người, thảm sát, tra tấn, hành hung, cắt xẻo các bộ phận thân thể, hãm hiếp… và các tội ác chiến tranh khác của lính Mỹ tại Việt Nam. Gần một nửa các cáo buộc đó đã được các điều tra viên xác thực nhưng hầu như không có ai bị kết án.
Sau khi đã có trong tay hồ sơ của Lục quân Mỹ, Deborah Nelson bắt đầu tìm kiếm và phỏng vấn những nhân chứng, nhất là những cựu binh Hoa Kỳ có liên quan, những người đã đứng ra tố giác và cả những kẻ bị tố giác. Điều khó khăn nhất mà Deborah Nelson đã vượt qua là làm cho những cựu binh Mỹ vốn mang đầy mặc cảm tội lỗi và sợ hãi có thể nói ra những sự thật mà họ dấu kín trong lòng suốt mấy chục năm. Sau đó Deborah Nelson còn đi “du lịch” đến Việt Nam để kiểm chứng thông tin và còn khám phá thêm một số vụ thảm sát khác không có trong hồ sơ.
Những cáo buộc về các tội ác chiến tranh trong cuốn sách này không đề cập đến vụ thảm sát Thạnh Phong vì thủ phạm Bob Kerrey không thuộc Lục quân, vả lại hồ sơ tội phạm của Thủy quân lục chiến Mỹ thường được hủy sau thời hạn 25 năm. Tuy nhiên qua cuốn sách ta có thể biết tấm Huy chương Ngôi sao đồng được “tưởng thưởng” cho Kerrey chỉ đơn giản là tương ứng theo số lượng người vô tội bị hắn giết.
Chẳng hạn, một cựu binh Mỹ, biệt danh “trung sĩ có liên quan”, trong những bức thư gửi đến William C. Westmoreland, khi đó là Tổng tư lệnh quân đội Hoa Kỳ, đã viết: “Lính trong đội bắn tỉa nói chuyện kiếm Huân chương như một chế độ tưởng thưởng. Huân chương Ngôi sao đồng cho thành tích giết từng này người da vàng, rồi Huân chương Ngôi sao bạc cho thành tích giết nhiều hơn. Một trong số họ bảo rằng có một chỉ thị chính thức từ sư đoàn nói giết bao nhiêu người thì được thưởng Huân chương nào. Lính của chúng tôi thỉnh thoảng mới đi tuần ban đêm dưới ánh sao, còn hầu hết thời gian họ chỉ việc bắn vào bất cứ người Việt nào họ có thể thấy trong tầm ngắm vào ban ngày cũng như vào buổi sáng sớm (Viên trung sĩ giải thích thêm, đó là khi người dân bắt đầu ra đồng làm việc hay đi chợ). Không vũ khí, không giấy tờ nào cho thấy đó là VC, chỉ là một người Việt chết được mặc nhiên cho là VC ngay sau khi ngã xuống cách khoảng 250 đến 350 thước. Tôi đã nghe thấy viên tiểu đoàn trưởng cười về chuyện bắn tỉa và nói chẳng mấy chốc sẽ không còn các cô nông dân xinh đẹp nữa vì lính bắn tỉa sẽ giết hết họ. Ông ta không quan tâm bọn họ bắn VC hay nông dân, ông ta chỉ cần số lượng xác cao”.
Cũng trong những bức thư nói trên, viên trung sĩ này tố cáo những cách thức giết người của lính Mỹ để kiếm Huân chương và kể lại nhiều vụ tàn sát, nhiều đến nỗi anh ta cho rằng “mỗi tháng là có một Mỹ Lai”.
Về chuyện “đổ tội lên trên”, cũng không chỉ có Bob Kerrey mới nói đến cái gọi là “chiến thuật của cấp trên”.
Cấp trên ở đây chính là viên tướng William C. Westmoreland, lúc đó là Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ, người đã đề xuất chiến lược chống du kích "Tìm và diệt". Hiệu quả thành công của từng chiến dịch được xác định dưa trên “thước đo” là con số báo cáo về số lượng địch quân bị giết, và được lính Mỹ gọi là “chiến thuật đếm xác” - “body counts”. “Thành tích chiến đấu” của các đơn vị hoàn toàn dựa theo số tử thi đếm được, bất cần phân biệt đó là VC hay thường dân. Chính vì thế mà mọi đơn vị tác chiến của các sư đoàn đều tìm cách “lấy” thêm “body counts” ở các đối tượng là dân thường, gồm cả phụ nữ và trẻ em. Cuộc hành quân Speedy Express, được coi là một “chiến thắng lớn” với con số “body counts” là 11.000 xác chết, nhưng chỉ có 748 vũ khí được tịch thu, hay trong một trận càn tại An Hòa, đại đội 5 Thủy quân Lục chiến đã báo cáo đã giết được 278 địch quân trong khi chỉ thu được 18 vũ khí.
Thế nhưng, nhằm chạy tội cho “trường hợp Bob Kerrey”, bằng miệng lưỡi và ngôn từ xảo trá, tay nhà văn trở cờ Nguyên Ngọc ảo tưởng có thể liếm sạch những vết máu đàn bà và trẻ con đã bị thảm sát dã man trong vụ Thạnh Phong, Vì thế cái “chiến thuật” hết sức phi nhân tính “body counts” nói trên lại được y ta  suy diễn thành “cái lý có chân”: “Không thể diệt Việt Cộng mà không giết dân, đàn bà và trẻ con”. Dĩ nhiên, đây chỉ là “chân lý” của riêng đám vong nô hận quốc như Nguyên Ngọc, chứ đến bản thân kẻ thủ ác như Bob Kerrey cũng không bao giờ dám nhờ nó để biện hộ cho những tội ác của mình.
Hồ sơ điều tra của Lục quân Mỹ cũng cho thấy, từ những năm 1970, nhiều lính Mỹ có lương tri đã cố gắng cảnh báo Lầu Năm góc và người dân Mỹ về những tội ác chiến tranh mà lính Mỹ gây ra tại Việt Nam, tuy nhiên những tên tội phạm chiến tranh như Bob Kerrey vẫn không bị ra tòa.
Một trong những lý do chính yếu khiến Bob Kerrey thoát tội là theo một phán quyết mang tính tiền lệ của Tòa án Tối cao Mỹ năm 1955 (vụ Toth), là Quân đội không thể xét xử cựu quân nhân tại Tòa án binh vì mâu thuẫn với Bộ Luật quân sự thống nhất. Mặc dầu có một vài tranh cãi, nhưng đến nay, Tòa án Liên bang Mỹ không xét xử những nghi phạm đã giải ngũ, kể cả có là tội phạm chiến tranh như đối với vụ Mỹ Lai.
Ngoài ra phải kể đến chính sách bưng bít đến từ chính người đứng đầu chính quyền Hoa Kỳ là Tổng thống Nixon. Ông ta đã ra lệnh, bằng mọi cách: “Không được để cho Lục quân bị mang lên trang nhất (của báo chí)”. Với sự bao che của Tổng thống và quân đội, những người tố cáo thậm chí đã bị chính quyền theo dõi, bị đe dọa bởi chính các điều tra viên và bị tố ngược là những kẻ nghiện ngập, bịa đặt và phản bội nước Mỹ.
Cuốn Phía sau cuộc chiến nêu lên nhiều trường hợp như thế và trong đó, trường hợp Jonh Kerry (hiện là Bộ trưởng Ngoại giao) là một ví dụ.
Ngày 22-4-1971, John Kerry, thành viên thuộc tổ chức Cựu binh Việt Nam Phản chiến đã tường trình trước Quốc hội, dựa trên kinh nghiệm của chính mình từ chiến trường Việt Nam cùng với hơn 150 quân nhân vừa giải ngũ, mà nhiều người đã được những huân chương cao quý. Tất cả đều đứng ra làm chứng về những tội ác của quân đội Hoa Kỳ, không chỉ là vài tội ác đơn lẻ, mà là những tội ác có hệ thống và xảy ra thường xuyên, và tất cả mọi sĩ quan trong quân đội Hoa Kỳ đều biết.
Ông tố cáo: “Quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam đã hãm hiếp đàn bà con gái, xẻo tai, cắt đầu, kẹp giây điện thoại dã chiến vào bộ phận sinh dục của tù nhân rồi quay máy phát điện, chặt chân tay họ, cho nổ tung thân thể, bắn bừa bãi vào thường dân, san bằng các làng mạc như kiểu Thành Cát Tư Hãn, bắn giết gia súc và chó để mua vui, bỏ thuốc độc vào đồ ăn thức uống, tàn phá làng mạc Việt Nam vốn đã bị dội bom tan nát bởi quân đội chúng ta”.
Kerry còn nói đến những chiến thuật man rợ khác như “tàn sát với lửa” (reconaissance by fire) có nghĩa là xả đạn bừa bãi vào mọi vị trí khi tiến vào làng, “khiêu khích và ngăn chặn bằng lửa” (harassment and interdiction fire) có nghĩa là nã đại pháo liên tục vào các làng mạc hay “khám xét Zippo” (Zippo inspection) có nghĩa là đốt nhà“mò tôm”, tức là đẩy tù nhân từ máy bay trực thăng xuống…
Tuy nhiên, ngay sau đó, chính quyền Nixon đã tiến hành những chiến dịch ngầm để làm mất uy tín Kerry. Tổng thống và các quan chức Lầu Năm góc đã phối hợp với một tổ chức đối địch mang tên Cựu chiến binh Việt Nam vì Hòa bình và Chính nghĩa để công khai bôi nhọ những lời buộc tội nói trên là phóng đại, gian lận và phản bội, thậm chí đó còn là mưu đồ của Cộng sản nhằm làm suy yếu các nỗ lực chiến tranh. Cho đến giữa thập niên 1980, những người tố cáo tội ác hầu như đều phải câm lặng.
Tranh cãi một lần nữa nổi lên vào năm 2004 khi John Kerry ra tranh cử Tổng thống. Để đánh bại ông, đối thủ của ông lại tiếp tục yêu cầu ông từ bỏ các tường trình của mình năm 1971. Vào thời điểm này, tướng về hưu John Johns, thành viên chủ chốt trong “nhóm Công tác về tội ác chiến tranh ở Việt Nam”, tức là những người đã tham gia nghiên cứu và che dấu 9.000 trang hồ sơ điều tra của Lục quân Mỹ đã nhắn tin liên tục cho Trung tâm chỉ huy chiến dịch vận động của Kerry để thông tin rằng mình có thể chứng minh Kerry đúng nhưng thật đáng tiếc, đã không có ai trả lời.
Cho dù thế nào thì chính trong thời gian đó, việc hồ sơ điều tra của Lục quân Mỹ bị phanh phui đã minh chứng cho những sự thật mà John Kerry đã tố cáo.
Không chỉ có những vụ thảm sát đã được điều tra (và bưng bít), tướng John Johns còn cho biết thêm:
“ Các hồ sơ điều tra tội ác chiến tranh chỉ là những bước đầu tiên. Hàng chục nghìn dân thường Việt Nam đã chết trong những vụ tàn sát không được điều tra như là tội ác chiến tranh. Đã có những cuộc tấn công không được phép trong khu vực tự do bắn phá và những vụ phóng hỏa bừa bãi vào làng mạc đông dân cư, và chương trình Phượng Hoàng cho phép tử hình hàng nghìn người Việt Nam bị nghi ngờ giúp đỡ đối phương”.
Tại sao “mỗi ngày có một Mỹ Lai” như thế mà rất ít người dân Hoa Kỳ biết đến? Hoặc nếu biết đến thì người ta cũng chỉ biết đến vụ việc một Mỹ Lai với thủ phạm duy nhất là viên trung uý William Calley.
Có thể nói, chiến dịch nhằm che dấu những tội ác chiến tranh ở Việt Nam của chính quyền và quân đội Hoa Kỳ cho đến nay không phải là đã hết tác dụng.
------ 
Bìa sách Phía sau cuộc chiến, Nhã Nam xuất bản năm 2010
Thông tin về tác giả:

Deborah Nelson là Giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Báo chí thuộc Viện Đại học Maryland tại College Park. Trước đó, bà là biên tập viên và phóng viên điều tra của các tờ báo lớn như Los Angeles Times,Washington Post, Seattle Times và Chicago Sun-Times, từng giành giải thưởng Pulitzer cho loạt bài phóng sự điều tra năm 1997 và là biên tập viên dự án cho các loạt bài phóng sự điều tra giành Pulitzer vào các năm 2000 và 2002. Bà còn là cựu Chủ tịch hội các Phóng viên và Biên tập viên chuyên về Điều tra trong ban quản trị của “Fund for Investigative Journalism”.