Thứ Hai, 29 tháng 6, 2015

Chuyện cụ Diệm "trưng cầu dân ý" (2)



(Tiếp theo phần 1)

Vậy là, ngày 4-10-1955, một cuộc họp gồm đại diện của 15 đoàn thể chính trị, tôn giáo, thanh niên, lao động, phụ nữ, lập ra một ủy ban mang tên “Ủy ban Trưng cầu dân ý”, đưa kiến nghị đòi truất phế quốc trưởng Bảo Đại kèm suy tôn cụ Diệm. Hai ngày sau (6-10), cụ Diệm lạch bạch triệu tập một cuộc họp Hội đồng Chính phủ chấp thuận “nguyện vọng” của dân chúng và hai ngày sau nữa (8-10) thì bộ Nội vụ ra tuyên cáo, sẽ tổ chức “trưng cầu dân ý” vào ngày 23/10/1955.
Trong khi ấy thì quốc trưởng Bảo Đại vẫn còn đang mơ màng ở xứ Riviera nước Pháp và nếu chẳng mơ màng thì ngài cũng làm gì có đủ thời giờ và phương tiện để mà phản công cụ Diệm.
Mãi đến ngày 13-10, mười ngày trước khi cuộc “trưng cầu dân ý” bắt đầu, quốc trưởng Bảo đại mới phản ứng một cách chiếu lệ. Từ Cannes (Pháp), ngài tố cáo Diệm “ngăn cản cuộc hiệp thương thống nhất trong hòa bình giữa hai miền”. Ngài khẩn khoản “xin người dân đừng hỗ trợ hoặc khuyến khích những hành vi của chính phủ (Diệm), trái với tình cảm sâu xa của dân tộc Việt Nam và lý tưởng hòa bình”.  Bảo Đại cũng gửi tới các nhà lãnh đạo Pháp, Anh và Hoa Kỳ lời trần tình là ông chẳng có phương tiện nào trong tay để đấu lại với truyền thông Sài Gòn, nơi báo chí bị chính phủ (cụ Diệm) kiểm duyệt gắt gao. Sau chót, ngày 18-10 - 1955, Bảo Đại đưa ra nỗ lực cuối cùng của để vớt vát uy quyền bằng cách tố cáo Diệm dùng cuộc trưng cầu dân ý để chủ trương độc tài cá nhân và tạo nên sự hiềm khích giữa Pháp và Hoa Kỳ, đồng thời ông tuyên bố thu hồi quyết định bổ nhiệm Diệm làm thủ tướng. Đây có lẽ là văn kiện cuối cùng của ông trên cương vị quốc trưởng Quốc gia Việt Nam.
Sài Gòn bấy giờ rầm rộ bước vào chiến dịch cổ động cho sự kiện “trưng cầu dân ý”. Các đài phát thanh chính phủ, thay vì phát những thông tin lạt nhách như thường lệ thì đặc sắc thay, họ lại đọc vè trong suốt nhiều ngày: “Vè vẻ vè ve/ Nghe vè Bảo Đại/ Là quân ăn hại/ Theo gót thực dân...”. Xen giữa vè là nhạc, bản nhạc phổ biến suốt ngày đêm là “Hai ba tháng mười là ngày trưng cầu dân ý/ Bầu cho, bầu cho người nào/ Bầu người chống cộng bài phong/ Hai ba tháng mười là ngày trưng cầu dân ý/ Đứng lên, toàn quốc viết trang sử mới …”
Chiến dịch suy tôn Ngô chí sỹ 
Trong khoảng một tuần trước ngày 23-10-1955, đường phố Sài Gòn và khắp các tỉnh miền Nam rực rỡ với những bích chương, biểu ngữ, tranh đả kích và hình nộm Bảo Đại. Các cơ quan tuyên truyền đã có rất nhiều sáng kiến trong việc “đấu tố” quốc trưởng Bảo Đại và suy tôn cụ Diệm, kể cả việc dùng đến quyền năng của đồng tiền và dụ khị trẻ con. Các học sinh theo học một vài trường công giáo được xe nhà binh (camion) rước tới những nơi đông người, tay cầm hình vua Bảo Đại bị gạch vào ngang mặt, miệng hát khản cả tiếng những bài vè về “quân ăn hại” như đã nói ở trên. Để thù lao cho việc xuống đường chửi bới quốc trưởng Bảo Đại, các thầy cô phát cho mỗi đứa 5 đồng, một món tiền khá lớn đối với trẻ con lúc bấy giờ, gọi là tiền "cụ Diệm thưởng" như ông Đào Văn Bình kể lại.
Dọc đường phố và tại các nơi công cộng, các khẩu hiệu “quảng bá” cho hai phe đối nhau chan chát. Để “ngợi ca” quốc trưởng Bảo Đại thì có các khẩu hiệu: “Bù nhìn Bảo Đại bán nước”; “Bảo Đại nuôi dưỡng sòng bài, đĩ điếm”; “Hãy cảnh giác Bảo Đại gian ác, mê cờ bạc, gái, rượu chè, bơ sữa. Những ai bỏ phiếu cho Bảo Đại là phản bội quốc gia và bóc lột nhân dân”. Trong khi đó, các khẩu hiệu dành cho đối thủ của ông thì: “Dồn phiếu cho chí sĩ Ngô Đình Diệm là xây dựng một xã hội công bằng và hạnh phúc”; “Chào mừng Ngô Chí Sĩ vị cứu tinh của dân tộc. Diệt cộng, truất phế Bảo Đại, bài phong, đả thực là nhiệm vụ công dân của một nước tự do.”
Hình nộm Bảo Đại, tay cầm một bị tiền và gái.
Còn đây là hình ảnh cụ Diệm
Trước ngày bỏ phiếu, lại thêm vài câu vè dễ nhớ được đưa ra để dân chúng mau chóng học thuộc: "Xanh bỏ giỏ, đỏ bỏ bì”, hay “Phiếu đỏ ta bỏ vô bì/ Phiếu xanh Bảo Đại ta thì vứt đi”.
Rồi thì cũng đến ngày 23-10-1955, các cử tri đi bỏ phiếu với một “tinh thần ... rất là... thể dục”.
Tất cả các công dân trên 18 tuổi có tên trong thống kê dân số mới nhất đều có quyền đi bầu (thống kê trước đó của chính phủ cho biết, tổng số cử tri ghi danh là 5.335.688 người), và thể thức bầu cử là “bỏ phiếu kín”. Các địa điểm bỏ phiếu được thiết lập cho mỗi đơn vị bầu cử là 1000 cử tri/điểm.
Bước chân vào phòng phiếu, cử tri phải xuất trình thẻ căn cước để ghi danh rồi sau đó nhận phiếu bầu và một phong bì kèm theo. Nhân viên điều hành phòng bỏ phiếu sẽ hướng dẫn cử tri tách đôi lá phiếu có in hình hai người mà mình định bầu cử, một bên xanh và một bên đỏ.
Gọi là “bỏ phiếu kín” nhưng không đồng ý ai làm quốc trưởng thì cứ việc vất toẹt phiếu in hình người đó, thẳng xuống đất hoặc vào sọt rác. Phiếu còn lại sẽ được bỏ vào cái phong bì đã được phát sẵn. Trước khi bỏ phong bì vào thùng phiếu, cử tri phải trình phong bì cho nhân viên điều hành phòng phiếu kiểm tra và chấp thuận.
Cho dù qui định quy trình bầu bán bề ngoài có vẻ chặt chẽ là vậy, nhưng lá phiếu “ta thì vất đi” (có màu xanh) sẽ cho thấy cụ Diệm là người chắc chắn đã được Chúa chọn lựa mà không hề cần đến Ban kiểm phiếu.
Phía bên trái, lồng trong khung màu xanh, lạnh lẽo và xui xẻo là hình quốc trưởng Bảo Đại trong bộ quốc phục, béo phị, mặt mũi tối tăm - (cái mặt không chơi được), bên dưới có hàng chữ: “Tôi không truất phế Bảo Đại, và không chấp nhận Ngô Đình Diệm làm Quốc trưởng Việt Nam với nhiệm vụ đặt nền móng dân chủ”.
Phía bên phải, lồng trong khung màu đỏ, ấm nồng và may mắn như thần tài, là hình cụ Diệm trong bộ Âu phục, mặt mũi phương phi, tươi cười, sáng sủa thật đáng ngưỡng mộ, bên dưới có hàng chữ “Tôi truất phế Bảo Đại và chấp thuận Ngô Đình Diệm làm Quốc trưởng Việt Nam, với nhiệm vụ đặt nền móng dân chủ”.
Thực ra, cái sáng kiến nửa xanh nửa đỏ này cũng lại do trùm CIA tại Việt Nam, là đại tá Edward Lansdale, rỉ tai cho cụ Diệm, nhằm tác động mạnh mẽ tới tâm lý cử tri mà chưa cần xét tới chuyện mê tín hay tập tính. Tuy nhiên, về tấm hình “nhìn mắc ghét” của Bảo Đại thì Lansdale sau này có nói lại rằng ông ta đã yêu cầu cụ Diệm phải dùng một tấm hình đẹp của Bảo Đại để tăng chút giá trị sòng phẳng cho cuộc đấu giữa đôi bên, nhưng có lẽ cụ Diệm thấy rằng tốt nhất là cứ làm ngược lại... cho đảm bảo “chắc ăn”.
Lanseale "xúi" cụ Diệm chọn ảnh này cho Bảo Đại - Nhưng cụ Diệm đâu có dại!
Để giữ thể diện cho cuộc trưng cầu dân ý, tốt nhất là Edward Lansdale nên lánh mặt khi nó xảy ra. Vì vậy, trước khi trở về Hoa Kỳ, với một vẻ hài hước nhưng thực ra lại rất nghiêm túc, ông ta căn dặn cụ Diệm: “Trong lúc tôi vắng mặt, tôi không muốn bỗng nhiên nhận được tin ông đắc cử với tỉ số 99.99 phần trăm số phiếu”.
Edward  Lansdale quả không hổ danh là một trùm tình báo, ít nhất là ở khả năng dự đoán kết quả bầu cử của cụ Diệm. Con số mà y đưa ra so với kết quả kiểm phiếu của cụ Diệm hóa ra chỉ sai lệch có hơn 1%: cụ Diệm đắc cử với số phiếu chiếm tỉ lệ 98.2%, và 1,1% là tỷ lệ số phiếu bầu cho đối thủ và cũng là đại ân nhân của cụ, người bây giờ đã chính thức bị bỏ vào sọt rác.
Đặc biệt, tại Sài Gòn, cụ Diệm được “dân” bầu tới 605.025 lá phiếu trong khi khu vực này chỉ có 450.000 cử tri ghi tên, đạt tỷ lệ “kinh dị” là xấp xỉ 130%. Nói cách khác, cứ 10 người đi bầu, thì có ít nhất là 3 con ma đi theo để bỏ phiếu suy tôn cụ Diệm!
Kết quả mỹ mãn của cuộc "trưng cầu dân ý"
Ba ngày sau, 26-10-1955.
Tại dinh Độc lập, cụ Diệm, tân quốc trưởng đọc bản Tuyên cáo xóa bỏ danh xưng Quốc gia Việt Nam và thành lập nền cộng hòa có tên Việt Nam Cộng hòa. Và trong khi chờ đợi một hiến pháp mới, thì quốc trưởng, đồng thời cũng là thủ tướng chính phủ, sẽ nhận danh hiệu Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa.
Như vậy, cuộc trưng cầu dân ý đầy gian lận và khôi hài này đã khai sinh ra thể chế Việt Nam cộng hòa. 
Và cụ Diệm bắt đầu công cuộc thực thi “nhiệm vụ đặt nền móng dân chủ” - cho đến tháng 11-1963, chính những người đã từng tung hô và bỏ phiếu cho cụ "rước cụ" về  nước Chúa, trên chiếc xe bọc thép M113...

Tháng 11-1963, Lá phiếu cuối cùng của người Saigon "bầu" cho cụ Diệm.



Thứ Năm, 25 tháng 6, 2015

Chuyện cụ Diệm "trưng cầu dân ý" (1)


Năm 1933, để cải cách triều đình, Hoàng đế Bảo Đại cách chức một loạt 5 ông Thượng thư các Bộ: Lại, Hình, Binh, Lễ, Công. Nguyên nhân? Vì các ông này vốn chỉ thông nho học, mà bây giờ lại là thời của những người Tây học. Thời ấy, cụ Diệm được Bảo Đại ưu ái giao cho chức Thượng thư bộ Lại.
Ngày 7-7-1954, cụ Diệm lại được quốc trưởng Bảo Đại chính thức bổ nhiệm chức thủ tướng Quốc Gia Việt Nam (Nam Việt Nam). Lần này thì chẳng còn thuần túy là “ưu ái” nữa mà là nhờ áp lực của người Mỹ đối với người Pháp và với cả quốc trưởng Bảo Đại. Đó là chưa kể bản thân cụ Diệm cũng có viết cho ông Bảo Đại một cái thư bốn năm trương (trang), nghĩa là lạy lục khú lụ không thể tưởng tượng được, để xin được làm thủ tướng ở trong ấy” (Hoàng Xuân Hãn – trả lời phỏng vấn của Thụy Khuê). “Cái thư ấy tôi có được đọc”- vẫn lời cụ Hoàng Xuân Hãn.
Cụ Diệm Thượng thư bên cạnh Hoàng đế Bảo Đại và trang cuối bức thư cụ Diệm Thủ tướng viết ngày 10-10-1954 trình lên quốc trưởng Bảo Đại "lòng trung thành tôn kính và thâm sâu".
Sự nghiệp “đả thực - bài phong” (đánh thực dân – bài trừ phong kiến) của cụ Diệm chỉ thực sự bắt đầu từ đây.
Nhưng lúc này (7-1954) thì còn gì để mà “đả thực” nữa, khi mà toàn bộ đoàn quân xâm lược của thực dân Đại Pháp đã bị tướng Giáp của Việt Minh tống tiễn bằng quả bom Điện Biên phủ “chấn động địa cầu”? Vả lại cụ Diệm nỡ lòng nào “đả thực”, khi anh cụ là Ngô Đình Thục đã từng kể công hãn mã với “thực” rằng: “ …với tư cách của một Giám mục, của một người An-nam, và với tư cách là người con của một gia đình mà thân phụ tôi đã phục vụ nước Pháp ngay từ khi Pháp mới đến An-nam, và đã nhiều lần đưa mạng sống cho nước Pháp trong các cuộc hành quân mà cha tôi cầm đầu, dưới quyền Nguyễn Thân, chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đình Phùng chỉ huy, tại Nghệ- an và Hà-tĩnh …” (Thư của Giám mục Ngô Đình Thục gởi Toàn Quyền Decoux, 21 – 08 – 1944).
Thư  "kể công" của Ngô Đình Thục gửi toàn quyền Decoux 
Tưởng vậy, nhưng hóa ra vẫn còn có lý do cho cụ Diệm “đả thực”. Vì ngay sau khi hay tin cụ Diệm được Bảo Đại bổ nhiệm Thủ Tướng thì tổng thống Hoa Kỳ là Eisenhower đã gửi công hàm thông báo từ nay chính phủ Quốc gia Việt Nam sẽ nhận viện trợ trực tiếp từ Hoa Kỳ chứ không qua nhà đương cục Pháp như trước. Và cũng bắt đầu từ đây, thế chân người Pháp, Hoa Kỳ sẽ là cường quốc Tây Phương duy nhất và độc quyền can dự vào Việt Nam.
“Đả thực” xong rồi, thì cụ Diệm tính đến chuyện “bài phong”. Đầu sỏ phong kiến thì còn có thể là ai khác, ngoài chính cái “thèng” đã vì những lời “lạy lục khú lụ không thể tưởng tượng được” của cụ mà trực tiếp đưa cụ lên ghế thủ tướng?
Vậy là, ngày 30 – 04 – 1955, “Hội đồng cách mạng quốc gia” được cụ tập hợp, họp đại hội tại Tòa Đô chánh sài Gòn, chính thức phát động một phong trào đòi truất phế quốc trưởng Bảo Đại (mới có một vế là truất phế Bảo Đại, chưa có ý suy tôn cụ Diệm).
Tại Huế, ngày 16-6, hưởng ứng “phong trào”, cụ Cẩn - em cụ Diệm, triệu tập Hội đồng tôn nhơn phủ của Nguyễn Phước tộc, ra tuyên bố bất tín nhiệm đối với Nguyễn Phước Vĩnh Thụy (tức Bảo Đại), đồng thời Tôn nhân phủ cũng xác nhận cụ Diệm mới đúng thật là người “tranh đấu cho tự do”. Rõ là “đường đường chính chính” nhé! Các mệ có ai còn "lăn tăn" thì cho biết sớm để cụ Cố trầu bố trí cho vào Chín hầm mà “ngâm cứu” tiếp nào?
Nhưng đến tháng 8-1955, cụ Diệm lại lo ngại thế lực bành trướng và ô hợp của đám “Hội đồng cách mạng quốc gia”, nên cho cảnh sát bao vây trụ sở hội đồng tại đường Phùng Khắc Khoan, khiến cho tổ chức này không thể tiếp tục hoạt động. Công cuộc tuyên truyền và hậu thuẫn cho việc phế truất Bảo Đại và đưa cụ Diệm lên ngôi được chuyển giao cho một tổ chức có tên gọi tương tự là “Phong trào Cách mạng Quốc gia”. Vì thế, phong trào này sẽ do đích thân Tổng trưởng thông tin của chính phủ, một “mưu sĩ nhà họ Ngô” là Trần Chánh Thành làm trung ương chủ tịch. (Ông Thành cũng chính là một trong hai người hôm 31-5-1955 đã “sắt máu” đòi “mở cửa kinh thành Huế, tịch thu các vật dụng trong văn phòng quốc trưởng, kể cả ấn tín”). Nhưng người thực sự chỉ đạo “phong trào”, thì chính là anh em nhà cụ Diệm chia nhau - cụ Cẩn phụ trách Trung phần và cụ Nhu phụ trách Nam phần.
Chiến dịch tuyên truyền nhằm phế truất Bảo Đại và suy tôn cụ Diệm bắt đầu.
Ông Đỗ Mậu, hồi ấy là chủ tịch phong trào Cách mạng quốc gia của bốn tỉnh duyên hải kể lại trong hồi ký: “...những tài liệu do Bộ Thông Tin Sài Gòn gởi ra cũng như những chỉ thị mật của Phong trào Cách mạng quốc gia từ Huế gởi vào cho tôi đều chủ yếu tập trung vào việc lên án những tội lỗi của vua Bảo Đại vô đức vô tài… Lên án không chưa đủ, chỉ thị còn bắt phải khơi dậy lòng căm thù ông Bảo Đại trong quần chúng nữa! ...
Cả một chiến dịch bao trùm từ Cà Mau đến Bến Hải do chính quyền yểm trợ trên cả hai mặt nội dung lẫn phương tiện, hung hăng và rầm rộ tìm cách đạp Bảo Đại xuống bùn dơ của lịch sử. Cả nước được vận động để phỉ nhổ Bảo Đại như là một hiện thân xấu xa nhất hơn cả Lê Chiêu Thống và Lê Long Đĩnh. Hai đài phát thanh Sài Gòn và Huế, phối hợp với báo chí trong gần một tháng trời, liên tục mạt sát ông Bảo Đại và thúc dục dân chúng quất roi và đốt lửa những hình nộm Bảo Đại”.
Về phía cụ Diệm, dĩ nhiên ban nhạc nhà thờ sẽ chỉ hát rặt một thứ Thánh ca. Tại Huế, trung tâm quyền lực xếp thứ hai sau Sài Gòn, đích thân ông Đỗ Mậu thuyết trình đề tài "Chí sĩ Ngô Đình Diệm với chính nghĩa quốc gia" trước hàng ngàn dân chúng. Bài thuyết trình này sau đó lại được cụ Cẩn cho phát đi phát lại trên đài phát thanh Huế 7 đêm liên tục, rồi được Bộ Thông tin in ra phát không khắp các tỉnh để làm tài liệu tuyên truyền học tập.
Trên hệ thống báo chí của cụ Diệm, Bảo Đại được mô tả như là một ông vua hư đốn về mặt đạo đức. Và lại còn là kẻ đần độn về mặt chính trị, mặc dù những nhân chứng đáng tin (Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn...) có dịp tiếp xúc với ông sau này kể lại, thực tế không phải như vậy.
Theo truyền thông cụ Diệm, Bảo Đại là “một kẻ hiếu sắc, rượu chè, tham lam và đần độn, đã thế còn thỏa hiệp với âm mưu tái lập chế độ thực dân, thông đồng với cộng sản và bao che cho những sứ quân “thoái hóa” và “phong kiến””.
Một loại bài kéo dài tới ba tuần lễ đăng trên báo Thời đại kể ra những chuyện gọi là “thâm cung bí sử” của vị vua này.
Từ chuyện Bảo Đại chỉ là con rơi của vua Khải Định vì “ai cũng biết” là Khải Định bất lực nên không thể có con, tác giả còn đi xa hơn nữa bằng một giả thiết rằng “có thể hoàng gia đã ra một chỉ dụ tuyên bố rằng không một người nào không có khả năng sinh con đẻ cái lại có thể được chấp nhận là hoàng đế, do đó bằng mọi giá Khải Định phải lấy một cung nữ có tên là Cúc (sau này là Huệ Phi) để có sẵn cái thai trong bụng” và “Khải Định đã hối lộ người cha thực của Bảo Đại để ông này im tiếng”.
Báo chí cũng tập trung  khai thác tối đa vào sự khác biệt về hình thể và tâm lý giữa hai ông vua để chứng minh họ không có cùng một dòng máu. Tỷ như Khải Định và Đồng Khánh thì nhu nhược, gầy ốm, trong khi đó thì Bảo Đại lại chững chạc, phương phi; hoặc Khải Định xa lánh đàn bà mà Bảo Đại lại là kẻ háo sắc.
Báo chí cũng liệt kê một loạt chuyện lăng nhăng tình ái, vợ nọ, nhân tình kia, rồi chuyện ăn chơi cờ bạc của cựu hoàng và cho rằng, đó là do Bảo Đại chịu ảnh hưởng của thực dân, vì chính người Pháp đã nuôi dạy Bảo Đại từ lúc bé. Nhưng chuyện “thâm cung” mãi, rồi cũng bí sử... nghĩa chả còn gì để nói, thì đến lúc tờ báo kết luận: “Quý độc giả phải đồng ý với chúng tôi về điểm này, Bảo Đại chỉ là lá bài của Pháp – hoặc chính xác hơn nữa – của một số quan chức thực dân Pháp”. 
Hình ảnh “phương diện quốc gia” chỉ thạo nghề ăn chơi trác táng chỉ là một phần nhỏ trong chiến dịch bôi lọ nồi lên mặt vị quốc trưởng thời mạt vận. Đến cái tội “là vua bù nhìn, là nhà lãnh đạo chia rẽ dân tộc, chia rẽ đất nước, đã bán đứng đất nước cho Pháp và Nhật nay lại cấu kết với thực dân và cộng sản bán nước một lần nữa” thì mới là tội to, không truất phế thì để làm gì?

Tấm chân dung quốc trưởng cũng bị đánh hội đồng.
Tất nhiên là cụ Diệm biết tội quốc trưởng cả đấy, nhưng cụ “nhân từ” lắm, cụ cứ để im xem sao, cụ chờ...
Tiếp theo sự chỉ trích của báo chí và các cơ quan tuyên truyền, đến lượt hàng loạt “thỉnh nguyện thư” của đủ những thành phần, từ các cơ quan của chính phủ và các phong trào chính trị miền Nam (hầu hết do gia đình cụ Diệm điều hành) cho đến của lính tráng và thường dân, được gửi lên, khẩn thiết đòi cụ Diệm phải truất phế ngôi vị quốc trưởng của Bảo Đại và thỉnh cầu cụ lên thay.
Ý dân là ý Chúa, đến nước này thì cụ Diệm hết chịu nổi, cụ đành phải “bất đắc dĩ” mà "chịu" tổ chức cuộc “trưng cầu dân ý”, tuy thật ra trước đó vào khoảng tháng 7-1955 cụ đã tham vấn trùm tình báo CIA ở Việt Nam lúc bấy giờ là Edward  Lansdale về việc này. Và “tình cờ” thế nào mà, cũng giống ông Nhu, Lansdale  đã gợi ý cho cụ rằng nên dùng hình thức trưng cầu dân ý là tiện lợi nhất. 

Cho nên, người ta gọi đó là “hiệp thông”, cứ như chuyện Khổng Minh với Chu Du không ai bảo ai cùng viết chữ “hỏa” vào lòng bàn tay trước khi đánh trận Xích Bích vậy.
(còn)


Thứ Hai, 22 tháng 6, 2015

Một cuộc “trưng cầu dân ý” bất thành



Năm 2001, một người bạn tôi có con gái học lớp 8 tại trường trung học cơ sở khá nổi tiếng, thuộc một tỉnh miền Tây.
Hội trưởng hội phụ huynh của lớp vốn là một bà chủ tiệm vàng, cũng có con gái học lớp này. Trong các cuộc vận động đóng góp gây quỹ cho hội phụ huynh lớp và trường thì bà hội trưởng luôn là người năng nổ và có “thành tích cao”. Hàng năm, cứ vào dịp ngày khai trường và ngày 20-11, riêng bà này “tài trợ” các thầy cô bộ môn trong lớp ít nhất mỗi người một bộ quần áo. Các thầy thì nhận vải may quần dài và áo sơ mi, còn các cô thường được tặng một xấp vải lụa để may một bộ áo dài. Cô chủ nhiệm, dĩ nhiên bao giờ cũng có phần quà hậu hĩnh hơn cả.
Các cuộc họp phụ huynh thông thường gồm ổn định tổ chức, điểm danh; giáo viên chủ nhiệm thông báo tình hình, nề nếp học tập dạy và học của trường, lớp trong thời gian qua, phương hướng, kế hoạch trong thời gian tới; thông báo các chỉ tiêu về học lực, hạnh kiểm của học sinh. Tiếp theo là công khai những khoản thu, chi của hội theo quy định chung cùng những khoản xã hội hoá khác. Sau cùng là những khoản thu “tự nguyện” mà chỉ có hội trưởng, người thu tiền là "tự nguyện" tươi cười, còn phụ huynh thì “tự nguyện” móc ví mà mặt nhăn như bị.
Cuộc họp lần này cũng thế, nhưng phần sau cùng là một cuộc "trưng cầu dân ý", do chính cô Chủ nhiệm trình diễn, nhằm phế truất một giáo viên dạy toán của lớp là thầy Hùng.
Thầy Hùng, thầy dạy môn Toán lớp này và cũng là giáo viên được Ban Giám hiệu phân công bồi dưỡng học sinh giỏi Toán của trường.
Cô Chủ nhiệm công bố một lá đơn của hội Phụ huynh lớp đã được soạn sẵn, nội dung là học sinh phản ánh giáo viên dạy môn toán của lớp “khả năng truyền thụ” kém, học sinh trong lớp không hiểu bài, điểm số không cao, do đó toàn thể phụ huynh học sinh lớp này đề nghị nhà trường thay thế người khác. Dưới lá đơn đã có sẵn chữ ký của bà hội trưởng, một ông hội phó và một số phụ huynh khác cũng đã ký tại nhà. Sau đó, lá đơn được chuyền dần xuống các phụ huynh còn lại để ký, mà cũng chẳng thấy ai hỏi han gì thêm trước khi ký.
Đến lượt anh bạn tôi, anh không đồng ý, anh xin phát biểu, đại ý:
Thứ nhất, thầy Hùng là người được nhà trường giao việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Toán, vì vậy nhận xét của các cháu về “khả năng truyền thụ” kém là không đáng tin cậy và có thể nói là vô lý.
Thứ hai, việc đánh giá về chuyên môn sư phạm của các thầy cô không phải là việc của hội Phụ huynh. Đó là việc của các cơ quan quản lý chuyên môn. Cụ thể, là của ban Giám hiệu nhà trường và ở cấp cao hơn, là phòng Giáo dục. Nhà trường có tổ bộ môn và phòng Giáo dục có các phòng chuyên môn, thường có việc “dự giờ” định kỳ hay đột xuất để đánh giá chất lượng giảng dạy của các thầy cô, chứ có phụ huynh nào "dự giờ" đâu mà đánh giá.
Thứ ba, việc Hội phụ huynh xuất phát từ sự kém cỏi nhất thời của con em mình mà đứng ra đòi thay giáo viên là trái với truyền thống “tôn sư trọng đạo” của ông cha ta. Thậm chí, việc phụ huynh kiến nghị "thay thầy" là vô đạo đức và sẽ là bài học xấu cho các cháu.
Còn với cô Chủ nhiệm lớp, thầy Hùng là đồng nghiệp với cô, nay các cháu kém môn Toán, ngày mai các cháu có thể kém môn khác, ngày kia các cháu đòi thay chính cô thì cô nghĩ sao?
Cô Chủ nhiệm bần thần chả biết nói năng gì, một vị phụ huynh phản ứng yếu ớt “ông thầy Hùng mà giảng thì chỉ những đứa giỏi hiểu thôi, còn học sinh thường như con cái chúng tôi không hiểu”.
Đến đây thì anh bạn tôi hoàn toàn thất vọng và bỗng vô cớ nổi quạu với anh hàng xóm ngồi bên cạnh nãy giờ cứ gật gù mà lại im thin thít (anh này là một sĩ quan, có con trai học cùng lớp). Giận cá chém thớt, anh tuyên bố sẽ không cho con gái học ở cái trường "ấm ớ" này nữa, và bỏ về một mạch. 
Cuối năm ấy, bạn tôi chuyển cả nhà về Sài Gòn.
Cuộc "trưng cầu dân ý" của cô Chủ nhiệm (thực chất là do đạo diễn của “nhà tài trợ” là bà Hội trưởng kiêm chủ tiệm vàng) năm ấy không thành công. 

Mà cũng không hẳn như thế. Nó suýt nữa thì đã thành công. Câu hỏi nếu bà chủ tiệm vàng đạt được mục tiêu "thay thầy", thì liệu "dân trí" của các học sinh trong lớp về môn Toán liệu có khá hơn không vẫn chưa có lời giải? 





Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2015

"Thảm họa" bình loạn - từ bóng đá đến nghị trường




Trận đấu giữa đội tuyển U23 Việt Nam – U23 Malaysia ngày 2/6 phát trên VTV6, do Bình luận viên Tạ Biên Cương bình luận.
Từ trước đến giờ, nhiều câu nói ngẫu hứng của Tạ Biên Cương khi bình luận bóng đá đã  được người yêu kẻ ghét tập hợp thành một bộ sưu tập có tên “Thảm họa bình luận viên Tạ Biên Cương”. Có người thích, có người chê. Có người chịu không nổi đến mức “phải chuyển kênh” nhưng có những người “nghe riết đâm nghiện”.
Một trong những lời bình luận của Tạ Biên Cương trong trận đấu hôm 2/6 được nhiều người nhắc đến: "Người ta vẫn nói rằng "hữu dũng vô mưu" nhưng đường chuyền thông minh của Hữu Dũng đã mang đến một thông điệp khác. Một đường chuyền đầy mưu mẹo, đầy thông minh đã đặt Văn Toàn vào vị trí để cầu thủ của HAGL có được bàn thắng."
Cùng một kiểu so sánh ấy, BLV Việt Khuê cũng có câu tương tự: “Daley Blind trong tiếng Anh có nghĩa là “không nhìn thấy” nhưng trong tình huống đó anh lại quan sát rất tốt, chuyền rất hoàn hảo”. Câu nói của Việt Khuê không/chưa bị coi là “thảm họa”.
Ông Lê Thụy Hải, tức là ông Hải “lơ”  – Nguyên giám đốc kỹ thuật đội bóng Becamex Bình Dương, nhận xét “Tôi không trách gì câu bình luận của cậu Tạ Biên Cương cả. Ý của cậu ấy là muốn nói tốt cho đội bóng U23 Việt Nam và không có ý nói xấu cầu thủ Hữu Dũng. Tuy nhiên, người hâm mộ xem bóng đá, đã xem bằng mắt rồi, không cần những câu nói thừa đó. Ngoài ra, trong trận đấu vừa nêu, cậu ta còn nói nhiều câu không hợp lý”.
Theo vị huấn luyện viên này, “bình luận viên bóng đá phải bình luận vị huấn luyện viên này sử dụng đấu pháp gì, sơ đồ đó có ý định gì và các cầu thủ vận hành sơ đồ chiến thuật đó có tốt hay không. Không nên bình luận hay tường thuật những gì mà khán giả xem truyền hình bằng mắt đã nhìn thấy rồi”.
Tạ Biên Cương là một bình luận viên có phong cách riêng, mới và lạ. Và nói thực, chẳng có gì đáng gọi là “thảm họa” qua các bình luận của anh hôm 2/6 cả. Thậm chí khi xem các trận có U23 Việt Nam đá sau đó, cũng do Tạ Biên Cương bình luận thì đã cảm thấy có sự nhạt nhẽo. Có vẻ nếu thiếu đi những câu nói “lạ”, BLV Tạ Biên Cương đã không còn là chính anh.
Ông Hải “lơ” có thể đúng, với cái ý “bình luận viên bóng đá phải bình luận vị huấn luyện viên này sử dụng đấu pháp gì, sơ đồ đó có ý định gì và các cầu thủ vận hành sơ đồ chiến thuật đó có tốt hay không”. Nhưng việc đó thực ra đã được ê kíp làm chương trình thực hiện bằng các bình luận trước trận đấu, sau trận đấu và giữa hai hiệp đấu, với công nghệ hình ảnh tiên tiến của nhà đài và sự am tường của các chuyên gia được mời kia mà. Thế thì phần còn lại, chả có lý do gì cấm anh Tạ Biên Cương thăng hoa cảm xúc, chọc cười và chọc giận khán giả. Và xét cho cùng, chơi bóng đá, xem và nghe bình luận bóng đá thì cũng nên vì mục đích thư giãn hơn là cay cú những chuyện không đâu.
Bản thân ông Lê Thụy Hải cũng là một người ưa gây “choáng” bằng những bình luận quá đà và trở thành “bình loạn”.
Chả kém “thảm họa” Tạ Biên Cương, ông Hải cũng có một bộ “sưu tập”:

  Những ngày cuối tháng 11/2014 rộ lên thông tin tiền đạo Nguyễn Công Phượng được đội bóng nước ngoài định giá chuyển nhượng có thể ở mức khoảng 3-4 triệu USD. Khi được hỏi chuyện, HLV Lê Thụy Hải (Giám đốc kỹ thuật của CLB Becamex Bình Dương) đã cho biết ông chẳng quan tâm đến chuyện này vì không biết Công Phượng là ai

Năm 2005, HLV Lê Thụy Hải dẫn dắt CLB SHB Đà Nẵng và ông đã tuyên bố thẳng thừng với các ông chủ của CLB này là "Không biết thì đừng mó vào". Và mặc dù giúp SHB Đà Nẵng đăng quang mùa giải đó nhưng ngay sau đó vị HLV này đã khăn gói rời đội bóng sông Hàn. 
 Năm 2009, HLV Lê Thụy Hải thay HLV Vương Tiến Dũng dẫn dắt CLB Thể Công. Mặc dù lúc đó Thể Công thi đấu vô cùng dở và có nguy cơ xuống hạng nhưng ông Lê Thụy Hải vẫn tuyên bố: "Tôi là HLV giỏi nhất Việt Nam và tôi không chấp nhận đội bóng do mình dẫn dắt bị xuống hạng".
Năm 2011, HLV Lê Thụy Hải đã đăng đàn tuyên chỉ trích ông Nguyễn Trọng Hỷ lúc đó là Tổng thư ký LĐBĐ Việt Nam. 
 Chưa hết trong cùng năm này, ông Hải còn hướng miệng mình về các vị trọng tài.
 Mùa giải 2012, dù có tài năng và cá tính nhưng ông cũng không giúp CLB Hải Phòng trụ hạng thành công và ông trút bầu tâm sự.
 Mùa giải vừa qua, vị HLV này giúp CLB Becamex Bình Dương vô địch và ông ngạo mạn với sự thành công của mình.
 Sau thất bại vô cùng đau đớn của U19 VN trước U19 Hàn Quốc, ông Hải đã nhấn mạnh U19 VN còn non về trận mạc và còn lâu mới đủ sức đá V.League.
 Sau khi bị "ném đá" quá nhiều về những phát ngôn của mình về U19 VN, ông Hải đã bất ngờ tuyên bố rằng ít có cầu thủ V.League nào đá hay được như những cầu thủ mà U19 VN đang có.
Công Vinh có tên trong bản hợp đồng giá trị mà CLB Becamex Bình Dương mới mua về để chuẩn bị cho mùa giải mới. Nhưng chưa kịp ấm chỗ ở sân Gò Đậu (sân nhà của Becamex Bình Dương) thì Công Vinh đã bị HLV Lê Thụy Hải "dằn mặt".
Anh Sơn, báo Kiến thức (tổng hợp)

Khi làm cho đội Ninh Bình, hưởng mức lương HLV cao nhất nước (100 triệu đồng/tháng), ông “tự khen”:“Tôi là hàng Việt Nam chất lượng cao nên hưởng lương như vậy mới xứng đáng”, nhưng  khi bị cổ động viên phản ứng vì những thành tích kém cỏi, ông vặc lại: “Có giỏi xuống đây mà làm”.
Khi Becamex Bình Dương của ông thua trận trên sân Hải Phòng, ông Hải cáu, ông “bình loạn” về trọng tài chính: “Nguyễn Trọng Thư chỉ xứng đáng làm trọng tài cấp phường”.
Gần đây, ông Hải đánh giá “HLV Miura chỉ là một huấn luyện viên hạng xoàng chưa có thành tích nào đáng kể, vì thế báo giới Việt và người hâm mộ không nên quá ca ngợi, kỳ vọng” và “U23 Việt Nam có vào chung kết thì cũng chỉ làm quân xanh cho người ta mà thôi”.
Nhưng, phong cách “bình loạn” của ông Hải “lơ” gần giống với ông đại biểu quốc hội Nguyễn Bá Thuyền.
Ông Lê Thụy Hải bảo: "Bình luận viên bóng đá Tạ Biên Cương không biết gì về bóng đá, nhưng vẫn bình luận".
Tương tự, ông Thuyền cũng có ý cho rằng ông Đinh La Thăng "không biết gì về giao thông, nhưng vẫn làm bộ trưởng"Năm 2011, tại hội trường Quốc hội, ông Thuyền chất vấn ông Thăng:
"Tôi ngưỡng mộ Bộ trưởng rất trẻ, dám nghĩ, dám làm, nhưng xin hỏi là không học về chuyên ngành giao thông, nhưng được giao nhiệm vụ làm Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, khó khăn lớn nhất của Bộ trưởng là gì? Xin cho biết để đại biểu Quốc hội cùng chia sẻ…".
Và:
"Nếu cứ trả lời lòng vòng như thế thì ai cũng làm Bộ trưởng được”.
Năm 2015, thì ông Thuyền tuyên bố có thể "làm thủ tướng":
“Trách nhiệm ít thế, tôi cũng có thể làm thủ tướng được”.
Nhớ lại, những câu nói vượt ra ngoài khuôn khổ chất vấn của ông nghị Thuyền năm 2011 bị báo chí đánh giá là “thiếu tôn trọng đối với người được hỏi, rộng hơn, là thiếu sự tôn trọng diễn đàn nghị trường và hàng triệu cử tri theo dõi”. Bản thân bộ trưởng Thăng khi đó cũng cho rằng “cần phải trao đổi thêm về văn hóa chất vấn nơi nghị trường” .
Khác với sự trong sáng của BLV Tạ Biên Cương, chẳng phải ngẫu nhiên mà ông Hải “lơ” và ông nghị Thuyền có những phát ngôn “gây sốc” cho dư luận. Thông qua các phát ngôn ấy, hai ông đều cố ý thể hiện vai trò "đặc biệt" của mình. Bằng cách ấy, các ông tự “đánh bóng” mình, tạo tiếng tăm, hình ảnh của mình trước dư luận.
Ông Hải "lơ" còn thành thật hơn ông nghị Thuyền, ở chỗ, tuy ông Hải chê ông Miura, nhưng cũng thừa nhận, nếu giao cho ông huấn luyện đội tuyển U23, không chắc ông đã làm tốt hơn vị HLV người Nhật: “Nếu nói giống các ông chuyên gia, tôi sẽ bảo mình làm được. Phải nói thế thì mới được mời, mới có thể tồn tại. Nên rất khó cho tôi. Nhưng tôi thì nói thế này, nếu được dẫn dắt U23 Việt Nam, khả năng sẽ còn kém hơn ông Miura!”.
Sân bóng chẳng phải là nơi đòi hỏi sự nghiêm túc như nghị trường, Tạ Biên Cương và Lê Thụy Hải có chém gió đến mấy thì cũng chẳng chết thằng Tây nào.
Còn các ông nghị thì sao, chốn nghị trường đâu phải chỗ nói nói xong rồi bỏ? Hãy tưởng tượng vào một ngày đẹp trời nào đó, ông nghị “mục hạ vô nhân” Nguyễn Bá Thuyền của chúng ta bỗng chễm chệ ngồi lên cái ghế Thủ tướng?
Thảm họa thật chứ chẳng đùa!


Thứ Hai, 8 tháng 6, 2015

"Cám ngoại" -Thiên đường Tự do báo chí phương Tây




Tự do báo chí là một trong các quyền cơ bản của công dân được hiến pháp nhà nước công nhận và bảo đảm trong bất cứ một quốc gia dân chủ nào, trong đó có Việt Nam.
Tuy vậy, trong trào lưu “cuồng Mỹ” như hiện nay, dường như chỉ có cái gọi là “Tự do báo chí phương Tây” mới là nơi nhiều anh chị (cựu) nhà báo, nhà bờ lóc rân trủ như Ô sin hay Duy Lác... vẫn há mồm khoan khoái ngồi mơ. Anh chị nào cũng nổ như lân gặp pháo rằng, khác với bọn quốc doanh, các anh chị bây giờ không viết vì mục đích kiếm "xiền". 
Gớm, "xiền" thì các anh chị, rõ nhất là với hai anh thợ viết kể trên, đã hốt cả đống, ngay từ thời các anh còn là những ngôi sao trong nghề "văn nô". Nghĩa là các anh đã sở hữu tỷ này, tỷ nọ, ngay từ hồi các anh còn mần báo "quốc doanh". Không tin cứ ngắm cơ ngơi và xét cái đức tiêu xài của các anh là đủ biết. Thế nên bây giờ các anh không thiết tha với "xiền" nữa chăng? Các anh chị biết đủ, biết dừng, biết "tri túc nhi túc" chăng? Có thể lắm chứ! Nếu đúng vậy thì thật là đại phúc cho các anh và cho cả chúng tôi.

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2015

Thiền sư Khánh Anh và vài câu đối thú vị ở chùa Phước Huệ



Thiền sư Khánh Anh (1895-1961)
Thiền sư Khánh Anh, thế danh Võ Hóa, sinh năm Ất Mùi (1895) quê tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Trước khi xuất gia đã là một người uyên thâm Nho học.
Ngài thọ giới năm 21 tuổi, chỉ vài năm sau đã trở thành một giảng sư có tiếng trong nhóm Khánh Hòa.