Thứ Năm, 31 tháng 8, 2017

Công nhận "Việt Nam cọng hành"? Đâu? Ai công nhận?




-------------
Sáng 18-8, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức giới thiệu và phát hành bộ Lịch sử Việt Nam (15 tập) trong đó dùng các chữ “quân đội Sài Gòn, chính quyền Sài Gòn” thay cho “ngụy quân” ngụy quyền” như trước.
Báo Tuổi Trẻ Online đùng đùng giật tít “Thừa nhận Việt Nam cộng hòa là bước tiến quan trọng”, báo hại các cụ cờ vàng hải ngoại và các nhà rân trủ giàu trí tưởng bở, được dịp hí hửng hoan ca, cho rằng đây là dịp để họ “tổng phục dựng” cái thây ma thối hoắc, đã ngỏm củ tỏi cách đây hơn bốn chục năm.  
Đài RFA không bỏ lỡ cơ hội, vội vã phỏng vấn ông Trần Đức Cường PGS-TS, Viện trưởng Viện Sử học, cơ quan biên soạn bộ sử này.
Thế nhưng, ông Cường cho biết:
Bản chất chính quyền Sài Gòn và quân đội Sài Gòn theo chúng tôi không có gì thay đổi cả. Đấy là một chính quyền được dựng lên từ đô la và vũ khí, thực hiện chiến lược toàn cầu của Mỹ, ngăn chặn chủ nghĩa Cộng Sản lan xuống vùng Đông Nam Á, đồng thời chia cắt đất nước Việt Nam một cách lâu dài, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ. Điều đó không có gì nghi ngờ cả..”. Và ông tiếp : “..Thứ hai, quân đội Sài Gòn thực chất được Mỹ trang bị hoàn toàn và quan trọng hơn là thực hiện mưu đồ của Mỹ. Đó cũng là một đội quân đi đánh thuê. Thực chất các nhà sử học không có một đánh giá nào khác so với thời gian trước đây.”. (RFA, 21-8-2017)
Trong một bài trả lời phỏng vấn đăng trên báo điện tử Một thế giới, cùng ngày 21-8, ông Cường nói rõ thêm:
 “Khi viết tập 12, giai đoạn 1954 đến 1965, chúng tôi cũng có những tranh luận rằng có nên dùng “nguỵ quân, nguỵ quyền” như trước đây không? Từ lâu, giới nghiên cứu đã cho rằng không nên dùng, nói hay viết cũng đều không sai, nhưng mang hơi hướng miệt thị. Trong bối cảnh hoà hợp dân tộc thì có những cách gọi cần thay đổi. Khái niệm dùng trong văn bản khoa học nên có sự khách quan, trung tính nên cuối cùng qua vài buổi tranh luận, tổ biên soạn quyết định dùng từ quân đội Sài Gòn, chính quyền Sài Gòn.
Trên lãnh thổ Việt Nam từng tồn tại những thực thể chính quyền. Thời chống Pháp (1945 - 1954) ngoài chính thể là Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thì ở các đô thị lớn thuộc vùng tạm chiếm, Pháp đã thành lập chính quyền Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại làm Quốc trưởng. Sau Hiệp định Giơnevơ, ở miền Nam cũng có chính quyền Việt Nam Cộng hoà. Dĩ nhiên, thực thể này không chính danh, không hợp pháp.”.
Như vậy, sự thực đã rõ. Chả có ai công nhận cái gọi là “chính thể Việt Nam cộng hòa” cả? Cái tít bố láo của báo Tuổi trẻ là dẫn nguyên một câu của cá nhân ông Nguyễn Nhã, ông này cho rằng cần thiết phải công nhận “Việt Nam cộng hòa là một chính thể” chứ không phải là “ngụy quyền” thì mới có cơ sở pháp lý để đòi lại Hoàng Sa từ tay Trung Quốc.
Còn theo ông Cường, bộ sử chỉ thay đổi cái tên để tránh cái “hơi hướng miệt thị” trong cách gọi mà thôi.
Nói thẳng ra, hơn ba mươi năm nay, mình chơi thân với nhiều ông từng là “ngụy” VNCH, dĩ nhiên không bao giờ gọi cá nhân người ta là “ngụy”. Vì mình tôn trọng và phân biệt cá nhân họ, (mà trong số đó không phải là không có những người thực sự có phẩm cách), với cái tổ chức “ngụy quyền” và “ngụy quân” VNCH. Mình nghĩ, từ “ngụy”, theo thời gian, rồi sẽ tự mất đi, một khi người ta tự thấy rằng không cần thiết phải dùng đến nó nữa. Thật đáng tiếc là giờ đây lại phải quay trở lại dùng chữ “ngụy”.
Ông Nguyễn Nhã bảo phải công nhận “Việt Nam cộng hòa”, để đạt mục đích xa tít mù tắp, là đòi lại Hoàng Sa từ tay người Tàu?
Mình nghe ù ù cạc cạc, nhưng xin hỏi: Bên Tàu, từ năm 1949 đến nay Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vẫn bảo đảo Đài Loan là lãnh thổ của họ. Vậy họ có bắt buộc phải công nhận chính quyền Trung Hoa dân quốc hay không? Còn theo chiều ngược lại, cũng từ 1949 đến nay, chính quyền Trung Hoa dân quốc ở Đài Loan vẫn ra rả đòi lại Trung Hoa đại lục, vậy họ có phải thừa nhận chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hay không? Hay anh Tàu nọ vẫn cứ phải khăng khăng bảo anh Tàu kia là “ngụy”?.
Tóm lại, tìm mỏi mắt, chả thấy ai “công nhận” hay “thừa nhận” Zombie Việt Nam cộng hòa cả.
Và ai có thẩm quyền để làm việc “công nhận” đó? Còn các nhà dziết sử hay cá nhân ông Nguyễn Nhã làm gì thì có đủ tư cách trong việc này?
-----------




Thứ Hai, 28 tháng 8, 2017

Ngụy sử 2: Ngụy nói về ngụy



---------------

"Ngụy" không chỉ đơn giản là "giả", như cái nghĩa tra trong từ điển.

Nói đến “ngụy quân, ngụy quyền” thì có nghĩa là nói đến quân đội tay sai, chính quyền tay sai, được ngoại bang trả tiền để làm cái việc phản lại dân tộc mình. Ngụy - "Việt Nam cộng hòa" cũng biết rõ điều ấy.
Họ nói về họ như thế nào, xin mời xem “lưu bút” của một số nhân vật chính trong cái gọi là “thực thể Việt Nam Cộng hòa”:

Bảo Đại chẳng là gì mà chỉ là công cụ trong tay người Pháp”.

“Biên giới Hoa Kỳ không ngừng ở Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, mà kéo dài, ở Đông Nam Á, tới sông Bến Hải, ở vĩ tuyến 17 của Việt Nam”.
(Ngô Đình Diệm, Tổng thống)

Mỹ còn viện trợ, thì chúng tôi còn chống cộng”. 

"Thưa Ngài Tổng thống,
Tôi đề nghị Ngài yêu cầu Quốc hội (Mỹ) đồng ý cho chúng tôi vay dài hạn lần cuối cùng số tiền 3 tỉ Mỹ kim được phân chia trong 3 năm và kỳ hạn hoàn trả là 10 năm, với mức lãi suất do Quốc hội Mỹ tự quyết định.
Tiềm năng về dầu hỏa và nguồn lợi về nông nghiệp của chúng tôi sẽ thế chấp cho món nợ này".

"Nếu Mỹ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau 3 giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi dinh Độc Lập!".

Các ông đưa tôi chỉ có 3 đôla mà thúc giục chúng tôi đi bằng máy bay, ghế hạng nhất, mướn phòng 300 đôla một ngày ở khách sạn, ăn ba hay bốn miếng bít-tết và uống bảy tám ly rượu Tây một bữa. Đấy là điều kỳ quặc không bao giờ làm được”.

“Mỹ đánh không lại Cộng sản nên bỏ mặc Việt Nam cộng hòa đánh một mình thì làm sao ăn. Có giỏi thì Mỹ vô đây lần nữa…”
(Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống, Tổng tư lệnh quân đội)

"Hết Tây (Pháp) rồi đến Mỹ, chẳng lẽ bây giờ còn đi làm tay sai cho Tàu nữa sao!"
(Dương Văn Minh, Tổng thống)

Việt Cộng gọi chúng tôi là những con rối, những con bù nhìn của người Mỹ. Nhưng rồi chính nhân dân Mỹ cũng gọi chúng tôi là những con bù nhìn của người Mỹ, chứ không phải là lãnh tụ chân chính của nhân dân Việt Nam”

"Mỹ luôn luôn đứng ra trước sân khấu, làm "kép nhất". Vì vậy ai cũng cho rằng đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi là những kẻ đánh thuê. Tôi biết rất rõ ràng về cái gọi là những người chỉ huy, những ông tướng lĩnh miền Nam khi ấy. Từ ông Thiệu đến những ông khác dưới trướng, xin lỗi, toàn là những vị ăn chơi phè phỡn, tài không có mà đức cũng không. Trước đây có "ông" Mỹ đứng sau thì không có chuyện gì, nhưng khi phải một mình trực tiếp đối diện với khó khăn thì bản chất cũng như tài năng lộ ra ngay”.
(Nguyễn Cao Kỳ, Phó Tổng thống)

"Chúng ta không có trách nhiệm về chiến tranh. Trách nhiệm về cuộc chiến ở đây là của người Mỹ. Chính sách đó do họ đề ra, chúng ta chỉ làm theo họ mà thôi!"

Việt Nam cộng hòa chỉ là một con cờ trong chiến lược toàn cầu của đại cường Hoa kỳ
(Cao Văn Viên, Đại tướng, Tổng Tham mưu trưởng quân đội)

"Những sản phẩm cho nhu cầu từ ăn, ở, mặc, tới vận chuyển, một tỷ lệ rất quan trọng được đáp ứng từ viện trợ Mỹ... về vật chất, sự lệ thuộc đã hầu như là toàn diện. Tình trạng này lại còn dẫn tới sự lệ thuộc về tinh thần và tâm lý. Nếu Mỹ còn giúp, thì các nhà lãnh đạo và quân đội Việt Nam Cộng hoà còn chịu đựng, chiến đấu. Nếu có dấu hiệu là Mỹ bắt đầu bỏ, thì tinh thần bắt đầu sa sút. Tới lúc bỏ thật là sụp đổ
...Về chính trị, phía Mỹ luôn chủ động như vậy, còn về quân sự? Ngay từ lúc Mỹ mới nhúng tay vào Miền Nam cũng đã có sự bất đồng về chiến thuật giữa Cố vấn Mỹ và Tướng lãnh Miền Nam. Trong một buổi họp, viên tư lệnh Mỹ ở Miền Nam, Tướng O'Daniel đã nói toạc ra là "Ai chi tiền thì người đó chỉ huy" (who pays, commands)…"
(Nguyễn Tiến Hưng, Bộ trưởng Kinh tế)

"Người Mỹ nhân danh dân chủ để khai thác xương máu người Việt trong việc thiết lập một "tiền đồn chống Cộng" tại Đông Nam Á. Người Mỹ đến Việt Nam không vì quyền lợi người Việt Nam mà vì quyền lợi người Mỹ. Nền dân chủ mà người Mỹ tán dương khi can thiệp vào Việt Nam là nền dân chủ được định nghĩa trong quyền lợi của Mỹ, một thứ phó sản được dùng làm bình phong để thực hiện chính sách chia để trị, thiết lập đạo quân thứ năm, khuyến khích tình trạng vô chính phủ, nội loạn… để dễ bề khuynh loát và khi cần thiết để thực hiện các cuộc đảo chính và ám sát lãnh tụ quốc gia bằng bàn tay của các tay sai bản xứ".
(Nguyễn Văn Ngân, Trợ lý đặc biệt của Tổng thống Thiệu)

"Ngày xưa tôi gọi đây là chiến tranh của Mỹ tại vì ổng (Mỹ) vô trong này từ cấp lớn đến cấp nhỏ ổng đều ở trên đầu, ổng làm cố vấn hết. Từ trên xuống dưới là của ảnh hết, súng cũng của ảnh, hành quân cũng của ảnh, đánh gì cũng của ảnh và trách nhiệm cũng của ảnh. Còn ông tổng thống trước khi ổng chạy đi thì ổng lên tiếng chửi Mỹ. Cái người ủng hộ Mỹ nhất mà cũng quay lại chửi Mỹ thì hỏi tôi không chống Mỹ sao được?"
(Ông Hồ Ngọc Nhuận, Nghị sĩ Quốc hội)

Như vậy, ai cũng biết bản chất ngụy quân, ngụy quyền” của cái gọi là “Việt Nam cộng hòa”. Những người từng nắm giữ trọng trách của “Việt Nam Cộng hòa cuốc” càng hiểu rõ điều đó, chỉ có điều họ có muốn nói ra hay không mà thôi.
Chỉ riêng các nhà “dziết sử” ngày nay, là đang giả vờ như không biết. 


-------------



Thứ Tư, 23 tháng 8, 2017

Ngụy sử 1: Lí lịch “Việt Nam Cộng hòa cuốc”



 ------------

Bộ sách Lịch sử Việt Nam 15 tập (Viện Sử học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và xã hội chủ biên) mới được công bố phát hành đã bị dư luận phê phán tơi bời.
Một trong những chi tiết gây tranh cãi là ở chỗ bộ sách này cho rằng: “Chính quyền Việt Nam cộng hoà là một thực thể ở miền Nam Việt Nam. Nó tồn tại trong gần 21 năm”, do đó những người biên tập đã “không gọi chính quyền Việt Nam cộng hoà là ngụy quân, ngụy quyền như trước, mà gọi là chính quyền Sài Gòn, quân đội Sài Gòn”.
Lí do?
Một trong các nhà “dziết sử”, ông Viện trưởng Viện sử học, chủ tịch Hội khoa học lịch sử VN, giải thích rằng “Lịch sử phải khách quan, phải viết thế nào để mọi người chấp nhận.
Ô hay, thì xưa nay có ai yêu cầu các nhà sử học phải “không được khách quan”? Đã thế còn cứ khăng khăng  phải viết sử để mọi người chấp nhận, thì sử do các ông viết ra liệu có còn khách quan?
Và chả biết các ông làm cách nào để có thể đạt đến cái “chỉ tiêu vĩ đại” là mọi người chấp nhận kia. Thực tế đã có hàng chục triệu người không chấp nhận cái kiểu “không gọi chính quyền Việt Nam cộng hoà là ngụy quân, ngụy quyền như trước” của các ông.
Chính quyền đó là chính quyền tay sai, quân đội ấy là quân đội tay sai, thì dân người ta gọi là ngụy quyền, ngụy quân, có thế thôi.
Có sơn vàng thếp bạc cái tên của cái chính quyền ấy, quân đội ấy thì cũng không thay đổi được cái bản chất ngụy của chúng.
Nhưng các ông bảo phải dziết sử phải khách quan, ừ thì hãy khách quan mà tìm hiểu xem cái gọi là “Chính quyền Việt Nam cộng hoà” ra đời từ đâu?
Này nhé, người “khai sinh” ra cái “Việt nam cộng hòa cuốc” là ông Ngô Đình Diệm, đúng chưa? Diệm là con ông Ngô Đình Khả, người mà có trát vàng vào mặt thì bàn tay vẫn không thể gột sạch máu của những nghĩa quân yêu nước trong phong trào Phan Đình Phùng. Điều này do chính anh trai ông Diệm là Ngô Đình Thục (đủ khách quan chưa?) kể lể công lao toàn gia làm chó săn cho thực dân Pháp nhé:
“…thân phụ tôi đã phục vụ nước Pháp ngay từ khi Pháp mới đến An-nam, và đã nhiều lần đưa mạng sống cho nước Pháp trong các cuộc hành quân mà cha tôi cầm đầu, dưới quyền Nguyễn Thân, chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đình Phùng chỉ huy, tại Nghệ- an và Hà-tĩnh …” (Thư của Giám mục Ngô Đình Thục gởi Toàn Quyền Decoux, 21 – 08 – 1944).
Thư  "kể công" của Ngô Đình Thục, anh ruột Ngô Đình Diệm gửi toàn quyền Decoux 


Diệm lại vốn là thủ tướng dưới trướng Quốc trưởng Bảo Đại, thời “Quốc gia Việt Nam”, thể chế này do Pháp nặn ra năm 1948, để cố kéo dài ách đô hộ Việt Nam sau cuộc Cách mạng long trời nổ đất tháng Tám 1945. Cái gọi là “Quốc gia” này cóc có Hiến pháp, và việc kiểm soát từ tài chính, thương mại cho đến các chính sách đối ngoại và quân sự đều do ông chủ Pháp điều hành. Thế thì gọi là ngụy quân, ngụy quyền được chưa?
Vậy là từ dòng dõi cho đến chánh tích của ông Diệm, ngay từ trước khi thành lập cái “Việt Nam cộng hòa cuốc”, đã ngụy rặt rồi nhé.
Bây giờ ta lại khách quan mà xem tiếp quá trình ông Diệm đẻ ra cái “Việt Nam cộng hoà cuốc” nó như thế nào.
Tại miền Nam Việt Nam, ngày 4-10-1955, đại diện của 15 đoàn thể chính trị, tôn giáo (hầu hết do gia đình ông Diệm lãnh đạo) đã lập ra một ủy ban mang tên “Ủy ban Trưng cầu dân ý”, kiến nghị đòi truất phế quốc trưởng Bảo Đại kèm suy tôn ông Diệm. Thế là chỉ hai ngày sau (6-10), ông Diệm, lờ tịt “sếp” mình, là quốc trưởng Bảo Đại, người mà ông đã từng “lạy lục khú lụ không thể tưởng tượng được, để xin được làm thủ tướng” (đó là nguyên văn chữ của người đương thời, là nhà sử học Hoàng Xuân Hãn đấy nhé), đích thân đứng ra chấp thuận “nguyện vọng quốc dân”. Huỵch tẹt ra, ông Diệm tiếm quyền “quốc trưởng”, chấp thuận “kiến nghị của quốc dân”, mà “quốc dân” ở đây… thì toàn là em ruột, em dâu, họ hàng  nhà ông Diệm. Hài hơn nữa, ông Diệm chấp thuận luôn cả cái mục “suy tôn” chính ông, có trong nội dung “kiến nghị”.
Ông Diệm chọn ngày, chưa đầy 2 tuần sau, là ngày 23-10-1955 để tổ chức “trưng cầu dân ý”.
Trước khi trò hề “trưng cầu” diễn ra, Đại tá Edward Lansdale, trùm CIA Mỹ và là tổng đạo diễn, ngượng quá, phải chuồn về Mỹ lánh mặt. Lansdale dặn dò ông Diệm: “Trong lúc tôi vắng mặt, tôi không muốn bỗng nhiên nhận được tin ông đắc cử với tỉ số 99.99 phần trăm số phiếu”. Rõ là khách quan nhé?
Ấy thế mà kết quả “trưng cầu dân ý” ngày 23-10-1955 cho thấy ông Diệm đắc cử với số phiếu chiếm tỉ lệ 98.2%, còn 1,1% là tỷ lệ số phiếu bầu cho “Quốc trưởng” Bảo Đại. Bớt được những hơn 1%, ông Diệm kể ra cũng ngoan, biết nghe lời chủ Mỹ đấy chứ!
Có sự gian lận đáng xấu hổ như Edward Lansdale lo xa hay không, hãy nhìn vào số phiếu bầu cho ông Diệm tại khu vực Sài Gòn thời ấy thì rõ:
Thống kê của chính quyền bấy giờ nhé: kết quả kiểm phiếu tại khu vực Sài Gòn, ông Diệm được bầu những 605.025 phiếu trong khi chỉ có 450.000 cử tri ghi tên. Tỷ lệ “kinh dị” xấp xỉ 130%, (đấy là với điều kiện cả 450.000 người ghi danh đều đi bỏ phiếu chứ còn con số thực sẽ luôn phải thấp hơn nhiều).
Bỏ rẻ, cứ 10 người Sài Gòn đi bầu, thì có ít nhất 13 “người” bỏ phiếu cho ông Diệm! Ba con ma kia ở đâu ra? Có gian lận hay không, có giả dối hay không, có ngụy hay không đã rõ rồi nhé!
(Quá trình ông Diệm mang thai cái “Việt Nam cộng hòa quốc” bạn đọc có thể xem chi tiết hơn ở hai bài đã đi trên blog này: 
Ba ngày sau, 26-10-1955 ông Diệm tuyên bố khai sinh ra cái “Việt Nam Cộng hòa cuốc”, đồng thời cứ tự phong mình làm Tổng thống cái đã, trong khi bộ sậu gia đình dòng họ vẫn chưa kịp sản xuất ra Hiến pháp cho “cuốc ra” mới. Như thế cũng có nghĩa là đã có “hiến” với “pháp” quái đâu để bảo rằng cái chức Tổng thống của ông Diệm là hợp hiến hay hợp pháp. Mà thôi, đã bảo là ngụy mà lại, có oan đâu, thậm chí đến cái “cuốc ca” của “Việt Nam cộng hòa cuốc” cũng phải đi thó từ bài Tiếng gọi sinh viên của cộng sản Lưu Hữu Phước kia mà.
Đấy, cái “thực thể” “Việt Nam cộng hòa cuốc” ra đời từ một cuộc “trưng cầu dân ý” đại bịp bợm và tiếu lâm như thế, lại do một ông, có thể nói là ngụy chính tông, ngụy toàn gia, ngụy cha truyền con nối, ngụy có nòi luôn, đẻ ra và làm lãnh đạo.
Vậy thì, thưa các nhà “dziết sử”.
Xuất thân của cái “Việt Nam cộng hòa cuốc” nó là như thế, đòi mọi người không gọi đích danh là ngụy thì làm sao đảm bảo tính khách quan đây, hả các quý ngài?

---------------



Thứ Hai, 21 tháng 8, 2017

Bút ... mắm (phấn II)



--------------------

Thời gian thấm thoắt thoi đưa, cuối Thu năm Bính Thân (Tây lịch 2016), có người phú thương tên là Mã Sơn (Masan), nửa đêm cưỡi con Rolls-Royce Phantom, động cơ V12, sức kéo tương đương 453 con ngựa Xích Thố, đưa danh thiếp xin gặp Khắm, bảo là có việc hệ trọng. Nguyên Mã Sơn là một thương gia có tài kinh bang tế thế, nhờ buôn mì tôm và tương ớt xuyên lục địa mà trở thành phú gia địch quốc. Nay y mới sáng chế ra công thức trộn nước lã với hóa chất thành một thứ nước chấm, gọi là nước mắm Ngất Ngư, muốn cậy báo Thanh Liên khuynh loát thị phần trên thị trường nội địa. Khắm liếc thấy Mã Sơn mang theo mấy bao tải kim ngân thì tỉnh hết cả rượu, múa tay lên giời cười khành khạch, đuổi hết cave ra ngoài rồi thỉnh Mã Sơn vào tận nhà trong cùng bàn định mưu mô. Mã Sơn bày tỏ chí hướng, ngã giá xong xuôi, Khắm liền rút trong tay áo ra một cuốn cẩm nang, kê cứu một hồi rồi hạ giọng bảo Mã Sơn đầu tiên hẵng tạm thi hành khổ nhục kế, còn mọi việc sau đó… như thế… như thế…. cứ để Khắm Khủng Khiếp này đảm trách. Chuyện mưu sự cụ tỉ thế nào, đây không nói nữa.
Chỉ biết sau đó, Khắm bàn với các sếp Chánh, Phó Tổng tài cắt cử lâu la đi rình mò các tỉnh, lấy về hơn trăm hũ nước mắm làm từ cá, để sẵn ở trong Tòa soạn gọi là chứng cớ. Công việc khám nghiệm được Khắm tổ chức tiến hành thật siêu tốc, mỗi ngày tự chấm mút được đến hơn 10 hũ, đưa ra kết quả gang thép là có tới 80 hũ chứa thạch tín, đủ giết 90 triệu đồng bào trong vòng nửa năm. Thực hư thế nào cứ xem hồi sau sẽ rõ.
Mấy hôm sau, báo Thanh Liên dành gần hết trang nhất in bài “Nước cộng hóa chất há lại thành công nghiệp nước mắm ru?”. Lại đem hình nước chấm Ngất Ngư mà minh họa, mục đích là để tung hỏa mù, lừa phỉnh thiên hạ. Ban đầu lê dân tứ xứ đọc qua, cứ ồ, à, tưởng phen này Thanh Liên mưu phạt công tâm, sai khiến bộ hạ xuất chiêu tiên hạ thủ vi cường, tận diệt Ngất Ngư Thủy cục của  bọn Mã Sơn.
Nào ngờ tiếp theo suốt tháng 10 năm ấy, báo Thanh Liên liên tục đăng loạt bài, toàn mạt sát phỉ nhổ thứ nước mắm làm từ cá, bảo rằng không “sạch”, không đạt “tiêu chuẩn”, rồi “cần cảnh giác với hàm lượng thạch tín”, rồi “lỗ hổng trong quản lý phụ gia” làm cho dân tình hoang mang bấn loạn. Sản xuất đình trệ, cá, muối, chai lọ làm ra đều không bán được, việc doanh thương ế ẩm, các bà nội trợ hoảng hốt, thực khách không còn biết đường nào mà lần, có kẻ độc mồm còn ngửa cổ bài xích các cụ nhà mình mấy ngàn năm nay toàn cho con cháu xơi thuốc độc. Đợi đến lúc đó, báo Thanh Liên mới ung dung mở chiến dịch quảng bá rầm rộ loại nước chấm Ngất Ngư của Mã Sơn, bảo là để đưa ẩm thực Việt ra toàn thế giới.

Thiên hạ bấy giờ mới té ngửa, hóa ra báo Thanh Liên nhận tiền của Mã Sơn mà tung loạt bài vu cáo, triệt hạ nước mắm truyền thống, thật là táng tận lương tâm. Riêng Khắm đợt ấy, hàng ngày thu hoạch ngân lượng nhiều vô kể, kim ngân châu báu quẳng vạ vật trong nhà, phải thuê thêm người kiểm đếm mới xuể.
Chuyện ấy rồi cũng có mấy người bán bánh cuốn ở chợ Bến Thành đem mách lên tới tận Tể tướng triều đình. Ngài chả cần đi đâu, chỉ nhấc loa gọi cho phu nhân để tham vấn. Hỏi ra mới tường cả tháng nay từ thứ dân đến các bậc Đại thần đều phải chịu khốn khổ vì vợ con cho ăn nhạt cả. Tể tướng nổi trận lôi đình, tức tốc triệu tập 50 vị Đại phu, bảo phải làm rõ trắng đen, ngày đêm đi khắp các tỉnh thành, thu thập, kiểm nếm tất thảy 247 lọ nước mắm cá, tuyệt không thấy lọ nào có chất Thạch tín như báo Thanh Liên vu vạ. Vụ việc được chuyển về bộ Nhị Thông của triều đình, là cơ quan quản lý cả mấy trăm tờ báo trong nước. Khắm liệu phen này không thể chối tội, bèn tự trói tay, xõa tóc, đi chân đất ra nha môn phường đầu thú, nhận tội chủ mưu. Báo Thanh Liên lập tức bị phạt hai trăm củ ngân lượng, Chánh, Phó Tổng tài đều bị giáng. Riêng viên Phó Tổng tài cùng với Khắm chẳng những bị tịch thu kim bài, bị công luận nọc ra đánh cho một trận thừa sống thiếu chết, còn nghe chửi bới nơi chợ búa thì vô số kể. Chiều tối hôm ấy, Khắm thất thểu mò về đến nhà, thì hỡi ôi bao nhiêu tài sản đã bị cave gọi xe Uber dọn đi sạch bách. Khắm tinh thần tuyệt vọng, chán nản khôn khuây, bèn đem chai Chivas 25 uống dở ra nốc cạn một hơi, rồi lăn quay ra ngủ.
Nửa đêm hôm ấy, tỉnh rượu, Khắm lau mặt qua loa, định bước sang bên kia đường ăn tô hủ tiếu cho đỡ đói thì bất thần gặp một người cao lớn ngáng chân xuýt ngã. Khắm định thần nhìn kĩ, người kia mặc áo tơi, râu chổi xuể, mắt ốc nhồi, nét mặt giận dữ, tay cầm con cá bằng gỗ. Khắm chưa kịp cự nự thì cụ già ấy đã túm chặt lấy áo, quát mắng xa xả: “Mày vì đồng tiền bất lương mà làm hại thanh danh họ nhà ta, thật đáng chết đâm chết chém. Nhà ta xưa nay vốn thật thà, cần kiệm, lừng danh thiên hạ là ở chỗ đã sáng chế ra món Mộc Ngư chấm nước mắm xịn, ăn mãi vẫn còn. Vả lại, cũng khởi từ một nghề làm mắm cha truyền con nối ấy mà nhiều thế hệ dẫu chưa thuộc hạng nhất phẩm công thần hay phú gia địch quốc, cũng gọi là công thành danh toại, được nhà nước thưởng huy chương hàng Việt chất lượng cao. Nay chỉ vì mày dùng ngòi bút bất lương, cam tâm triệt hạ đến cả nghề nghiệp tổ tông, đạp đổ bàn thờ dòng họ, làm cho cụ Ngũ đại của mày là tao đây, phải tủi nhục khôn cùng, không thể siêu thoát. Thử hỏi loài ác độc như mày không đem giết đi thì để làm gì cho nhơ nhuốc”. Nói rồi giơ cao con Mộc Ngư, thẳng cánh nện vào mặt Khắm. 
Khắm hoảng loạn, vội ù chạy vào nhà trong, chân nọ đá phải chân kia, ngã lăn ra kêu cứu. Đến đây bỗng bừng tỉnh dậy, thì thấy mình vẫn nằm chơ vơ trên giường, hốt hoảng xem đồng hồ thì hóa ra mới cuối canh ba. 
Đầu Xuân năm ấy, Khắm lâm bệnh nặng, nằm liệt suốt một tháng liền. Tòa soạn cũng cắt cử người trao bảo hiểm y tế, săn sóc thuốc thang, nhưng bệnh tình không mấy thuyên giảm. Tiếc nuối danh lợi gây dựng bao lâu nay bỗng tan hoang như bọt nước, áng mây, lại thêm khủng hoảng tình cảm, càng ngày tinh thần Khắm càng sa sút bấn loạn. Tuy vậy y vẫn nhen nhóm chút hi vọng, mong lúc nào đó lại được cầm cây bút để làm lại từ đầu.
Một sáng đang nằm, nghe tiếng chim líu lo bên nhà hàng xóm, lại thấy một tia nắng mong manh lọt qua khe cửa sắp tàn. Khắm bỗng hốt hoảng tưởng chừng mùa xuân sắp bỏ mình mà đi, bèn gượng ngồi lên, đến bên cửa sổ. Mấy nụ hoa thắm cười duyên sau thềm, lá xanh tươi màu nhựa mới. Khắm lần tường đứng dậy, lục ngăn kéo cầm lấy cây bút và tập giấy.
Vừa cầm bút lên, Khắm bỗng giật mình, mực trong bút tự nhiên nhạt dần màu sắc, chuyển thành một thứ nước nhờ nhờ đùng đục. Khắm kinh ngạc thử đi thử lại mấy loại bút. Bút nào, mực nào vào tay y cũng chỉ rỉ ra từng giọt, từng giọt, sền sệt và nhờ đục như màu nước mắm bị hỏng. Khắm thử đưa lên ngang mũi, một mùi khắm kinh khủng tỏa ra khắp nhà. Hoảng quá, Khắm buông bút, vớ lấy bàn phím computer gõ thử. Lạ thay, chẳng có con chữ nào xuất hiện trên màn hình, bàn phím ứa ra như khóc, vẫn một thứ nước ấy, sền sệt và khắm lặm như mùi cá ươn, chuột chết. Khắm choáng váng mặt mày, ngã vật xuống sàn, lòng chứa chan ân hận, nước mắt ràn rụa.
Kể từ ngày ấy Khắm tuyệt tích trên trường văn trận bút, không còn ai biết rõ đi về đâu, sống chết ra sao. Mãi tới mấy năm sau, mới có người khách thương ở Xiêm La về, bảo y đã được bọn Mã Sơn nhớ công lúc trước, ngầm đưa sang bên ấy phục hồi sức khỏe, rồi lại bố trí cho làm công việc tuần kiểm tại Ngất Ngư Thủy cục bên bển. Lại cũng có bọn người, nguyên là ký giả Thanh Liên báo, nhân có chuyến đi dã ngoại nơi sơn cùng thủy tận, kể rằng bữa ấy có gặp một người, trông kĩ ra thì đích xác là Khắm, vai quẩy hai can nhựa loại 20 lít. Bọn ấy réo vẫy mấy lần vẫn chả thấy hồi đáp. Đã vậy, nhác thấy bọn nam thanh nữ tú báo Thanh Liên, người ấy vội vàng nhăn mặt, bịt mũi, rồi cuống quýt bỏ quên cả dép, nhằm phía rừng sâu trổ công phu khinh công thượng thặng, trên vai vẫn đong đưa hai cái can nhựa. Chỉ trong chốc lát, đã thấy mất hút con mẹ hàng lươn. Bọn ấy lại kể, Khắm đi được một lúc đã lâu mà mùi nước mắm vẫn còn lưu lại thoang thoảng.

Ta thời trẻ, từng đọc thiên “Bút máu” của ngài Vũ Hạnh Chân nhân mà lấy làm kính sợ, đến nỗi trọn đời chẳng dám mon men thi vào khối C. Lại nghe bọn hào kiệt nơi phố xá ngày nay thường bảo “Nợ mắm phải trả bằng mắm”, có nhẽ lời ấy chẳng ngoa, nên hôm nay chép lại chuyện này làm chứng. 
--------------


Thứ Năm, 17 tháng 8, 2017

Bút… mắm. (phần I)




-----------

Vũ Khắm, tên khai sinh là Khối, người miệt Trúc Giang, nay gọi là Bến Tre, thuộc Cửu long châu thổ. Nguyên dòng họ phát tích ở miền duyên hải Nghệ Tĩnh, lưu lạc vào Nam Trung bộ lập nghiệp, kể đến đời Khối đã là năm sáu đời. Khối cất tiếng khóc chào đời tại nhà hộ sinh thị xã Phan Thiết, lúc sinh ra có điềm lạ là mùi nước mắm tỏa hương ngào ngạt quanh năm.
Năm Khối vừa tròn tuổi thôi nôi, gia đình tổ chức tiệc đầy năm. Nhân muốn dự định tương lai mà đặt Khối ngồi giữa chiếu rồi bày ra một mớ các vật dụng xung quanh để xem thằng bé chọn món gì. Khối bất ngờ quơ nhoằng một cái, mọi người chưa kịp định thần, thì đã thấy tay trái Khối quơ được cây bút, tay phải thủ được con dao đem giấu sau lưng. Lại gần hơn thì càng ngạc nhiên, vì không biết tự lúc nào Khối đã kịp vơ vào lòng mấy cái bánh, mà trên đầu thì đã cài được cả cái kẹp tóc. Ai cũng cho là lạ, cha mẹ hãi quá bèn đổi tên con thành Khắm để cho quỷ ma khỏi để ý.
Nhân khi ấy gặp thời li loạn, giặc Huỳnh Kì nhiễu nhương non nửa đất nước. Cha Khắm bị họ Ngô Đình đem giết, phu nhân sầu thảm mấy tháng liền, mất ăn mất ngủ lại thêm căn tạng yếu đuối nên lâm bệnh nặng, thần kinh hốt hoảng, luôn luôn giật mình, nằm mơ thấy toàn máu lửa, sọ xương. Liệu không sống được bao lâu bèn gọi người cậu ở Trúc Giang mang Khắm về, nuôi cho ăn học.
Khắm nổi tiếng thông minh dĩnh ngộ từ khi tóc còn để trái đào. Lên sáu đã tốt nghiệp Mẫu giáo, bẩy tuổi được tuyển thẳng vào lớp Một. Khắm nhanh tay lẹ mắt, mồm mép láo liên, ưa thơ ca, từ phú, trong nhà ai cũng ngợi khen là bậc thần đồng. Nghe kể lại cuối năm lớp Một, Khắm “sáng tác” được bài thơ năm chữ được bạn Tân Thái Bá vỗ tay tán dương lắm lắm, nhất là mấy câu:
Má Tí là nông dân
Ở cánh đồng Thạnh Phú
Vừa làm lại vừa hú
Trong buổi sáng mùa Xuân.
Ông cậu nuôi Khắm theo học trường làng đủ một con giáp, Khắm mỗi năm thăng một trật, đến năm Tây lịch thứ 1987 thì đỗ Tú Tài, nhưng kì thi Hương sau đó thì bị đánh trượt vì phạm trường quy. Khắm buồn bã ở nhà không thò mặt ra ngoài cả tháng, người cậu thương tình bèn lo lót cho y chức tuần đinh kiêm phó ban văn nghệ của Hợp tác xã.
Nhờ vậy, năng khiếu văn chương, từ phú của Khắm lại được dịp phát tác, ngày nào cũng sản xuất thơ ca hò vè đâm bị thóc chọc bị gạo, gặp ai cũng níu lại mời nghe, tự vỗ tay đồm độp rồi đòi thù lao. Càng ngày y càng bê trễ công việc tuần thú hương thôn, có ý chê việc ấy chỉ nên dành cho bọn vai u thịt bắp, không phù hợp với tạng thư sinh nho nhã như mình. Người cậu thấy thế bèn gọi lại mắng rằng:
- Mày trước giờ chỉ được cái nhanh mồm khéo miệng, lại có tính tắt mắt, hàng xóm ai cũng e ngại. Đã vậy còn không phân biệt được giả, chân, thiện, ác, thì làm sao có thể dự định tương lai? Mày nên nhớ việc giữ gìn an ninh nơi thôn xóm cũng là việc quan trọng không thể lơi là, mà vị tất thơ phú đã là thứ sạch sẽ, văn chương đã chẳng tạo oan khiên, ngòi bút mà ở tay mày biết đâu rồi cũng thành lưỡi dao hại người! Tao lâu nay được mẹ mày ủy thác, bây giờ, thế thôi là hết. Từ nay tùy mày định lấy đời mày, tao không nói nữa.
Nói xong múc gáo nước, ngửa mặt lên trời, súc miệng ba lần, nhổ toẹt ba lần rồi ra quán nhậu đến sáng hôm sau mới về.
Từ khi không còn bị kiềm tỏa, Khắm càng nung nấu hoài bão hái ra tiền bạc bằng từ phú văn chương. Một hôm, nhân có người của Nhân Xã Học hiệu nơi Sài Côn về tuyển môn sinh khoa Ngôn ngữ và Văn học hệ tại chức, Khắm bèn nộp đơn, nhờ chứng lậu là cán bộ văn xã đủ thâm niên, lại sẵn lí lịch ghi cha bị giặc giết, nên được đặc cách theo học hệ cử tuyển.
Người cậu bấy giờ cũng đã nguôi ngoai, đổi giận thành vui, cặm cụi cày bừa gặt hái chu cấp cho Khắm ăn học suốt 4 năm liền. Trong những năm học ở Nhân xã Học hiệu, Khắm không có thành tựu gì nổi trội. Tây lịch năm 1994, Khắm thi đỗ Cử nhân, kiến thức có được mở mang đáng kể nhưng tính tắt mắt mãi vẫn không bỏ được.
Tốt nghiệp Nhân xã Học hiệu, Khắm trốn ở lại Sài Côn, hủy cam kết, không về quê cũ, xin được làm chân Cộng tác viên của đôi tờ lá cải kiếm sống qua ngày. Vài năm sau, có tiền, lại thêm mở mang quan hệ, Khắm lo lót được làm chân ký giả tập sự của báo Thanh Liên.
Lại nói về tờ báo Thanh Liên lúc ấy. Thời buổi thương trường tựa chiến trường, nhiều doanh nghiệp đều tìm đến báo Thanh Liên, hoặc để khuyếch trương thanh thế, hoặc tìm cách hạ uy tín của đối thủ cạnh tranh. Thanh Liên cứ thế mà thu theo biểu giá vài triệu đồng cho một tin, bài quảng bá, còn muốn triệt hạ địch thủ thì cứ bỏ ra vài chục triệu đồng, tất sẽ được bao trọn gói. Nhiều doanh gia lừng lẫy nơi thương trường như Kiên đầu bạc, Diệu Hiền, Hoàng Yến…, lúc phải thời thường đem ngân lượng cỡ hàng chục tỷ, dưới danh nghĩa là tài trợ đến dâng tặng Thanh Liên. Ấy nhưng một khi sa cơ thất thế, thì chính họ lại bị bọn lâu la của tờ báo đánh vu hồi cho kì tán gia bại sản. Bởi vậy, bấy giờ doanh gia trong nước ai ai cũng vừa muốn cầu cạnh lại vừa khiếp sợ.
Nói về Khắm, khi về làm việc tập sự cho tờ Thanh Liên, ban ngày chịu khó cung phụng trà thuốc cho các đại ca để học lỏm thêm nghiệp vụ, ban đêm lại được các sư phụ cầm tay chỉ việc, mật truyền cho các bút pháp chưa từng công khai trong học viện. Miệt mài như vậy suốt mấy năm, y bỏ hẳn lối thi ca từ chương vớ vẩn, tập trung toàn lực luyện công phu Sinh sự điều tra. Bút lực dần trở nên có sức công phá bạo liệt, lại thêm huyền ảo khó lường. Từng chữ viết ra đều như có ám khí dấu bên trong, từng câu buông ra đều vọng tiếng loảng xoảng của kim tiền, thật vô cùng hiểm độc.
Chẳng những thế, Khắm còn tụ tập một đám thảo khấu trong làng ký giả chuyên phối hợp sách nhiễu các doanh nghiệp. Khi thì ép đăng quảng cáo, lúc thì dọa đăng bài, có khi sáng đăng, trưa gặp, chiều gỡ, cảnh tượng làm ăn nô nức xôm tụ cứ như đám cô hồn vào mùa tháng Bảy. Có câu thơ đề trước Tòa soạn làm chứng rằng:
Người xách bút, kẻ mang bao
Sớm đăng, chiều hạ ào ào như sôi.
Tiếng đồn loang ra khắp thiên hạ, khiến cho nhiều doanh gia phải kinh động mang lễ vật đến Khắm nhờ cậy, đồng nghiệp cũng phải nể sợ mà đặt cho y biệt danh là Khắm Khủng Khiếp. Dần dần Khắm được trên bỏ cho hai chữ tập sự, rồi lại được hai thầy Chánh, Phó Tổng tài báo Thanh Liên ưu ái bổ nhiệm vào chức Tổng quản của Tòa soạn vừa mới bị khuyết. Kể từ đó, cuộc đời Khắm thăng hoa như diều gặp gió, bước một bước vào phú quý sang giàu. Y lấy vợ, sinh con, sắm xe hơi, tậu một biệt thự ở Phú Mỹ Hưng làm nơi sinh hoạt cho thê tử, còn căn nhà mặt đường Cống Quỳnh thì y giữ lại để làm nơi giao du với các doanh gia và bồ nhí.

Lạ một cái là từ khi bước vào vòng vinh hoa phú quý, danh lợi lưỡng toàn, kim ngân châu báu thứ thì gửi Ngân hàng, thứ thì bỏ vung vãi trong nhà, không để đâu cho hết, thì về mặt tình cảm, Khắm lại có chiều sa sút, tinh thần mỗi ngày càng thêm đăm chiêu u uất. Ông cậu thuở hàn vi không một lần thăm cháu, nghe nói đã theo truyền nhân của ngài Đạo Dừa lên Thất Sơn tu luyện, bạn hẩu thì chỉ mặn nồng lúc trà dư tửu hậu, còn sểnh ra một cái là chửi đổng, nói xấu sau lưng. Dần dần đến vợ cũng tỏ thái độ lạnh nhạt, con cũng không chịu ở gần, đến mụ ô sin giúp việc nhà nhác thấy bóng y cũng cạnh khóe chửi mèo mắng chó. Khắm càng chán nản, bèn dọn hẳn ra ở nơi Cống Quỳnh để tiện việc đi đêm về hôm, ban ngày ăn uống nơi nhà hàng, tối đến lang thang quán nhậu, vũ trường, trác táng đến khuya mới nhờ đôi ba kĩ nữ dìu về bày trò hoan lạc.
(còn tiếp)
-----