Thứ Hai, 29 tháng 9, 2014

“Mợ Ba” em đấu tố!


“Mợ Ba” vừa tung lên mạng bức “thư kiến nghị”, nội dung dài dằng dặc tới 15 trang. À quên, còn thêm một trang nữa, dành riêng cho cái chữ ký nguệch ngoạc của “mợ”.
“Mợ”, tự nhận là “mợ Ba”, có nghĩa (tự nhận) là vợ hai của "dượng Ba", chả biết đúng hay không, thôi chuyện thật giả cứ để đấy tính sau.

"Mợ" Ba, hẳn là thấy "cậu" Trần Đũng ăn khoai, nên cũng vác mai đi đào. Số là "cậu" Trần Đũng, bao năm nay chả ai biết tên biết tuổi nay bỗng đột nhiên thành "ngôi sao rân trủ", nổi tiếng với cái khoản già đầu mà còn .... 

Trong khi đó, thực tế "mợ Ba" hơn hẳn "cậu" dăm năm về cái sự già, lẽ nào lại chịu kém miếng về cái khoản ... "nổi tiếng" kia.

Để "nổi tiếng" một cách cực nhanh, thì không có gì hữu hiệu bằng châm lửa "đốt đền". Việc đầu tiên là "mợ" phải chọn cái đền thờ nào đó mà đốt. 

Chơi trội hơn Trần Đũng, "mợ" Ba nhắm ngay cái đền hot nhất trong lòng người Việt hiện nay, là đền thờ Võ tướng quân. Thủ pháp đốt đền thì tuy có cao thấp khác nhau, nhưng cơ bản thì "mợ" cũng không khác "cậu", nghĩa là cứ căn cứ "vô tuyến truyền mồm" mà nghị luận. 

Nội dung "đơn kiến nghị" của mợ chẳng có gì khác ngoài việc sổ toẹt công tích với dân, với nước của Võ Tướng quân, ở đây "mợ" vừa là “nhân chứng” vừa là “quan tòa”.
"Mợ" nghe “dượng” thủ thỉ (chắc là trên giường?) và các “đồng chí” (đấy là “mợ” nói thế) rằng: Tướng Giáp là “gián điệp”, trước thì "mần" cho Pháp và sau thì cho Nga Sô.
Vâng, nếu đúng thế thì tướng Giáp tội to, tội làm gián điệp, phản quốc. Tội này ngày xưa là cứ phải tru di, thế mà nay cớ sao dân lại cứ khăng khăng lập bàn thờ, nước lại định đời đời ghi sự nghiệp? Vô lý, thậm vô lý. Thế thì "mợ Ba" em phát rồ phát dại là phải. Kiện là đúng quá rồi!

Nhưng nếu tướng Giáp "được trả tiền" để làm gián điệp cho Pháp, cho Liên Xô thì vẫn còn thiếu, "mợ" ạ. Em xin "mật báo" với mợ, tướng Giáp còn "mần" cho cả Mỹ nữa, bằng chứng còn đây:

Bá cáo “mợ”, OSS chính hiệu Con nai vàng, là tiền thân của CIA đấy ạ, ghê chửa?

Nhân tiện mách "mợ" luôn, (để "mợ" có chút vốn xào mì ăn liền hoặc dùng dần), giang hồ cũng từng “truyền mồm” về việc Ông Cụ làm “gián điệp” cho các tổ chức, quốc gia sau:
      -  Quốc tế cộng sản, cái này chả cần đồn đã rõ, giấy tờ còn lưu rành rành, cán bộ ban Phương Đông.
    - Nga Xô, vì được chính phủ Liên Xô phái đến Quảng Châu, dưới danh nghĩa phiên dịch cho đại sứ Brodine và tướng Gallen.
     - Anh, vì nhờ luật sư và tòa án nước Anh mà bí mật thoát khỏi Hồng Công.
     - Tàu quốc gia, vì theo chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn, bằng chứng là cứ một mực đòi “Độc lập – Tư do – Hạnh phúc”.
     - Tàu cộng sản, vì từng là thiếu tá trong Bát lộ quân của Diệp Kiếm Anh.
     - Pháp, vì khăng khăng đòi ký hiệp định sơ bộ 6/3/1946, không chịu cho Hoa quân nhập Việt.
     - Mỹ, vì nhận vũ khí, điện đài của OSS, sau lại tám lần gửi "mật thư" cho những người đứng dầu nước Mỹ.
Ơn "mợ", nhờ sự "đấu tố" của “mợ” mà chúng em đã hiểu ra, vậy là bọn thực dân Pháp đã “thuê” tướng Giáp đánh trận Điện Biên Phủ, Nga Xô “mướn” tướng Giáp đánh đế quốc Mỹ, sau đó đế quốc Mỹ lại “trả tiền” cho tướng Giáp giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước Việt Nam

Thâm, thâm thật, tiên sư bọn đế quốc sài lang, hị hị hị!
Rõ ràng, chỉ với những “tội” làm “gián điệp” như trên, thì chưa đủ độ ép phê để triệt hạ, để sổ toẹt công lao Tướng quân, cho nên “mợ” tố thêm cái tội “nhận vơ ” thành tích. Đó là nước cờ cao và thâm ra phết, phỏng ạ?
"Mợ" tố, trong chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, quyết định quan trọng nhất là chuyển chiến thuật từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang "đánh chắc tiến chắc” là của Vi Quốc Thanh, cố vấn Tàu. Võ tướng quân “nhận vơ” của Tàu, hé hé hé!
Hay phết, nhưng em muốn “mợ” lưu ý thêm, về một chỉ thị của Ông Cụ cho Tướng quân trước chiến dịch rằng: Trận này rất quan trọng, chú phải đánh cho thắng, chắc thắng mới đánh. Không chắc thắng không đánh

“Mợ" nên tìm cách đổi quách tác giả của cái chỉ thị này sang Vi cố vấn là nhất, và nếu "nghe nói", là do Vi cố vấn "ban chỉ thị" ra cho chính Ông Cụ, thì lại càng triệt để ép phê.
Rồi "mợ" lại tố, trong chiến dịch Hồ Chí Minh, mệnh lệnh “Thần tốc, thần tốc...” thì Tướng quân cũng “nhận vơ” nốt, chỗ này, theo "mợ" kể, có anh cò Trung, từ bé đến lớn chuyên ngủ chung với “dượng” ở phòng bên nghe lỏm được. (Đến đây em xin mở ngoặc chút, chả biết anh cò Trung của “mợ” là anh nào, chứ anh Trung con dượng Ba tui, sinh tuổi Tuất 1958 thì năm đó đã vào đại học cmn rùi).
Thôi thì em cũng cứ moi cái bút tích lịch sử có chữ ký "Văn" ấy ra, để “mợ” cạo sửa mấy chữ "Thần tốc, thần tốc hơn nữa..." thành "Thong thả, thong thả hơn nữa..." "mợ" nhé:
Chiến dịch Hồ Chí Minh

Xong chưa ạ? Xong rồi, thì “mợ” phù phép cắt dán luôn cái này nữa đi, cho nó khỏi lạc đàn. Mà có khi không cần thiết, vì đây chữ ký của ông "Ngọc" nào đó kia mà:
Trận Điện Biên Phủ
Đã mách nước về nội dung đơn kiến nghị của "mợ", sẵn trớn, em lại có đôi nhời về mặt hình thức.
Thưa “mợ”, về khoản này "mợ" hình như quá kém. Nhưng cứ bình tĩnh, em sẽ tiến cử một vài "nhân tài" để "mợ" tùy nghi sai bảo.

Về thể loại “kiến nghị” kiểu “vô tuyến truyền mồm” này, thì kỳ tài bậc nhất phải là nhà “rân trủ” kiêm “tâm thần gia” Lê Nghiện Anh Hùng. Anh là tác giả của tập hồ sơ kiến nghị kiêm tiểu thuyết trinh thám hình sự dày đến gần 700 trang, tố cáo một ngài đương kim Phó thủ tướng, hiện "chủ trì" đường dây buôn ma túy xuyên quốc gia cùng với vợ anh ta. Cụ Nghị Quốc, chưa hưu trí mất sức đọc mới non một nửa đã thành mất trí luôn, em thề. 
Thủ pháp “tin đồn” của anh chàng ngáo đá này, lúc đầu thiên hạ cứ tưởng là khùng, sau mới biết là khùng thật, nay lại đang được khá nhiều các "cựu thư ký" hoặc “nhà báo tự do” áp dụng và phổ biến, độ độc tăng vọt, cao hơn hẳn thuốc diệt chuột.
Mới đây, thủ pháp này đã được vận dụng trong vụ “bí mật hội nghị Thành Đô”, đầu tiên do một blogger có tên Kami úp mở tung ra, rằng Việt muốn thành một tỉnh của Tàu.
Thiếu tướng Lê Gà mờ lập tức cắn câu cho là theo tin của Tân hoa xã Trung Quốc và báo Hoàn cầu Trung Quốc, sau đó đến Đại tá an ninh Nguyễn Thong manh chụp ảnh bản chuyển ngữ audio về dẫn đăng trong Blog Đại tá Bùi Bừa. Rồi chính Kami viết bài trên blog RFA ngày 10.8.2014 dẫn ngược lại là theo ông Lê Gà mờ. Thế là trọn một vòng lừa và tự lừa. Vụ này, bác TH09 chỉ dẫn ở đây , "mợ" nghiên cứu kỹ, đặng học tập thủ pháp.
Như em đã nói, hàm lượng độc tố của thủ pháp kiểu này mạnh hơn nhiều so với mọi loại thuốc diệt chuột do Ba Tàu sản xuất. Đấy, vừa rồi nó làm cho 20 ngài cựu sĩ quan quân đội đồng loạt ăn vào bả độc, toi ngay tức thì, lẩy bẩy viết “tâm thư” đòi Nhà nước “giải mã” Hội nghị Thành Đô, khẩn cấp khẩn cấp. (xem bài này của blogger tumathien).

Bây giờ, xin mách với “mợ” vài điều về bà "vợ nhì" dượng Ba tui:
"Vợ nhì" của dượng Ba tui là dân có học. Bả tên thật là Nguyễn Thụy Nga, con một ông thư ký trào Tây trong Phủ toàn quyền (Sài Gòn), sau ổng bỏ việc thư ký, đi viết báo, cũng bằng tiếng Tây.
"Vợ nhì" của dượng Ba tui, từng làm báo Phụ nữ Việt Nam khi ra Hà Nội, sau lại được sang Trung Quốc học tập chánh trị và bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí tại Đại học Bắc Kinh (tháng 12/1957).
Thế rồi năm 1964, bả lại trở vô Nam làm báo Giải phóng (Tây Nam bộ), rồi làm Phó ban Tuyên huấn Khu.
Trước khi về nghỉ, bả còn giữ chức Phó Tổng Biên tập báo Sài Gòn giải phóng.
Thế còn “mợ”, chả biết “mợ” học lớp mấy mà “kiến nghị” của “mợ” câu cú lủng củng, ý tứ trùng lắp, chấm phảy loạn xà ngầu, chính tả sai tùm lum tùm la. Không lẽ ....?

Thế nên.... Thôi tốt nhất là lần sau nếu còn tiếp tục mần “kiến nghị” kiểu này “mợ” nên sai đám nô tài như Ô sin chẳng hạn, bảo nó viết hộ, thì không những không tốn tiền, mà còn được thối ngược.

Chứ đừng nhờ lão Bùi Tín, lão ấy sẽ đòi tiền viết thuê, thật đấy.
---------------
Bonus:  
Sau cùng, thì tặng “mợ” một tấm ảnh “Dượng Ba tui” chụp chung với Tướng quân và Thầy Đôn Hậu, Huế, năm 1976.


Chả biết các cụ nói chuyện gì mà cười tươi thế, em đặt tên bức ảnh là Đại Từ, Đại Bi, Đại Hỷ, Đại Xả, "mợ" nhá!


Thứ Hai, 22 tháng 9, 2014

Động kỡn, động đực và động kinh.

Nguyên hôm trước, Lý tôi mạo muội phê phán chuyện các nhà làm công tác Zăn hóa nước ta đang loay hoay tìm cách "thoát Tàu", bằng việc mở chiến dịch bài trừ những con "sư tử đá" (mời đọc lại). Phải nói là, tôi thực sự không thông, khi các nhà Zăn hóa gọi chúng, những con sư tử đá vô tri vô giác, là những "linh vật ngoại lai". Theo tôi, đã gọi là "linh vật", chí ít phải có thuộc tính "linh", mà muốn là "linh" thì phải được tôn thờ hoặc được ca tụng cái đã.

Trong quá trình tìm hiểu linh tinh về "linh vật ngoại lai", thú thật, tôi không hề tốn nhiều công sức và thời gian. Giờ đây, chẳng những tôi đã hiểu rõ, "linh vật ngoại lai" là gì mà còn hiểu một cách sâu sắc, trực quan và cụ tỉ. 

Hơn thế nữa, tôi còn tìm được ngay câu trả lời về nguồn gốc của "nó". 

Đó chính là:

ĐỘNG KỠN, CACC ạ! 

***

Sau đây, xin gửi toàn bộ "nghiên kíu" của tôi để các nhà Zăn hóa được tường minh:

Động Kỡn 1: "Linh vật ngoại lai", gốc Tàu

Ngày thường...


Ngày lễ ...



Viết rằng:  生日快乐... 
Phiên rằng: shēng rì kuài lè 
Đọc rằng: Sưng rự Khoái lờ

Tỉu nà ma lứa nào giấu cái luôi sam giả của ngộ, hà!


Rao liu văn nghệ, hát thế nào
Thì hát rằng: "Mừng sinh nhật cúa cu... Mừng sinh nhật cúa cu..."

Động Kỡn 2: "Linh vật ngoại lai", gốc Tây

Thì cũng rao liu văn nghệ: Cụ bà Doris Deahardie ở Redford, Anh mừng sinh nhật tuổi 100 tại một quán rượu, nhạc nền là bài hát “The Full Monty” với vũ công nam giới thoát y trước mặt cụ và các ... bạn cụ

Hát rằng: "Mừng sinh nhật có ... cu, mừng sinh nhật có... cu...."

Động Kỡn 3: "Linh vật ngoại lai", gốc Việt

"Mừng linh vật lắm lông..., mừng linh vật lắm lông..."

"Mừng linh vật có ...râu, mừng linh vật có ...râu..."

Kết luận: "Linh vật ngoại lai" (1, 2 và 3) - Tất cả đều do "động kỡn" mà ra cả.

***

Bổ sung, lúc 1h50 ngày 22/09/2014:

Ngay sau khi entry này được đăng, chủ blog đã nhận được "phản biện" từ comment của bác Cu Tít, rằng về nguồn gốc của các "Linh vật ngoại lai", không phải "Tất cả đều do "động kỡn" mà ra cả" như vừa kết luận ở trên.

Bác Cu Tít, chỉ đồng ý mỗi chữ "động" còn "động" cái gì thì cụ tỷ phải như sau:

Bà lão gốc Tây,  là do "động đực",
Hai anh gốc Việt, là do "động kinh"
Cụ Giáo linh tinh, quả do "động cỡn"!



Thứ Sáu, 19 tháng 9, 2014

Đấu tố thời @



Dẫn: Nhân chuyện triển lãm CCRĐ vừa mở cửa vài ngày đã đóng, nhớ đến vụ đấu tố quái lạ xảy ra vào tháng 11 năm ngoái ở xã Chàng Sơn, Thạch Thất, Hà Nội. 

Sai lầm của đấu tố xưa, là đã giao cho các ông bà bần cố nông thiếu học giữ cả vai công tố lẫn quan tòa, cho nên mục đích thì đúng đắn nhưng hậu quả thì lắm oan sai. Riêng trong vụ đấu tố Chàng Sơn ngày nay thì lực lượng công tố, quan tòa còn có thêm cả bọn lắm chữ, là đám Lá ngón tham gia.
---------
1. Tham gia tố tụng:
Nguyên đơn: Chi Hội phụ nữ sồn sồn và các mầm non 7 thôn thuộc xã Chàng Sơn
Nhân chứng: Như trên
Cơ quan điều tra: Vẫn như trên
Cơ quan đại diện quyền công tố: Vẫn vậy
Hội thẩm nhân dân: Cũng vẫn thế
Tòa án: Tái bản, có bổ sung tập đoàn Lá ngón Annam
Bị đơn: Không hộ khẩu, không CMND, chưa xác minh được nhân thân, tạm gọi là Ngài
Bào chữa cho bên bị: (Luật) Sư Thích Minh Phượng, thế danh Nguyễn Xuân Long
2. Diễn biến trước phiên tòa:

Đầu tiên, “cơ quan điều tra” trang điểm cho “đối tượng” bằng lọ ghẹ và chụp cho Ngài một cái mũ cối. Nhưng hình như cái mũ cối không đạt hiệu quả gây "căm thù" đối với “hội thẩm nhân dân”, thậm chí còn có vẻ phản tác dụng.

Do vậy, sau khi nhận được chỉ đạo "không chụp mũ", “điều tra viên” đổi phương án thành "chụp nón" (lá), nhưng vẫn phản tác dụng, vì dường như nét mặt “bị đơn” lại tươi hơn. Không ổn.
Có đề xuất mới là cho Ngài đeo kính mát, nhưng vẫn không thể tác động đến tinh thần của “bị đơn”. Đeo kính mát vào, trông vẻ mặt Ngài lại thêm cương nghị.
Đã đến giờ dẫn giải “bị cáo” ra tòa. Thôi, dẹp không cần "trang điểm" gì thêm nữa! 

Đấy thấy chưa, không “bôi gio trát trấu” thì mới thấy Ngài buồn, thậm chí, hình như Ngài đang khóc.
3. Diễn biến tại phiên tòa:
Bước 1: Đấu tố sơ bộ:
 Bước 2: Đấu tố cao trào:
4. Tòa tuyên án: 
Mỗi câu: "A la xô"! (phiên âm tiếng Pháp, nghĩa đen là "Xông lên")
Xử ngay, lần 1: Sơ thẩm

Ảnh lấy từ trang của Xuân nhọ mõm, thành viên Lá ngón
Bản án với hình phạt này được cho là quá nhẹ, “bên giữ quyền công tố” đề nghị làm rõ, tòa trả hồ sơ để "điều tra bổ sung". 
Ảnh lấy từ trang của Xuân nhọ mõm
Ừ, bổ thỉ bổ, "điều tra viên" tức thì điều tra bổ sung.

Xử lần 2: Phúc thẩm
Ảnh vẫn lấy từ trang Xuân nhọ mõm (*)
Sau khi “cơ quan điều tra” bổ sung các “hồ sơ chứng cứ”, đã đủ cơ sở để kết luận với các “tình tiết tăng nặng hình phạt”, bản án có hiệu lực lập tức, thi hành án tại tòa.
Tất tần tật, tòa án, nguyên đơn, nhân chứng, cơ quan điều tra, kiểm sát viên, hội thẩm  và "nhân dân" 7 thôn Chàng Sơn vui mừng phấn khởi. Đông đảo quần chúng nô nức biểu thị sự đồng tình với hình phạt nghiêm minh mà Tòa đã áp dụng với các bị cáo.
Sau đó, Hội phụ nữ sồn sồn và các mầm non kết hợp chặt chẽ với tập đoàn Lá Ngón Annam lại tiếp tục hăng say lao động, phấn đấu và cống hiến.

5. Ấy, mải tường thuật, quên tiệt là cần phải trình bày “bị cáo” phạm tội gì.
Tội gì, tội gì?
Thì tội to, to lắm, nghiêm trọng lắm! 
Đó là tội “GIỐNG HỆT (LUẬT) SƯ”:
Bị cáo và (luật) sư 
Tại phiên tòa, (luật) sư Thích Minh Phượng lắp bắp bào chữa: Bức tượng này không phải là tôi đặt đúc, mà do một Phật tử trong làng tên Chu Thị Nụ cúng dường, theo mẫu tượng đức Điều Ngự.... Ngay lúc đó, hệ thống âm thanh bị sự cố kỹ thuật. Toàn thể "phiên tòa", trên dưới một lòng, hô vang, "đả đảo (luật) sư"!
(Luật) sư tháo chạy, để lại hiện trường một chiếc xe Kia Morning màu trắng mang biển số XYZ và hình như cả một chiếc dép tổ ong đứt quai (theo truyền thống từ thời Đạt ma sư tổ).
"Tòa" tuyên tịch thu và sung tất vào "công quỹ".
 6. Diễn biến ngoài phiên tòa
Trong khi theo dõi chặt chẽ diễn biến phiên tòa từ xa, Nghệ sỹ Công Lý hốt hoảng tuyên bố, "từ bé tôi đã đã kiên định ý chí chiến đấu, dứt khoát không đi tu, bằng chứng là hiện nay tôi đang chuẩn bị lấy vợ lần thứ ba".
Sau đó, anh hứa sẽ luôn chăm ngoan diễn hài và cam đoan không bao giờ tự đúc tượng cũng như nhận tượng do người khác cung tiến. Rồi, anh bỗng nức nở, thề trọn đời "đéo dại" bén mảng đến làng Chàng Sơn và không bao giờ dám dây với, xin phép chép nguyên văn, là, "địt mẹ bọn Lá ngón Annam".
***
Trong khi đó, tại non thiêng Yên Tử, nơi ngàn năm mây trắng đi về, đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông hoàn toàn không bình luận gì về vụ án. Ngài vẫn an nhiên tự tại, thậm chí còn cười mỉm, như trong bức tranh này:
Rồi Ngài lại nhập định để trầm ngâm suy nghĩ về cuộc đời, vốn dằng dặc những oan khiên đấu tố:
Tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông, tư thế ngồi thiền mở mắt, mặc áo hở vai, đặt tại tháp tổ Huệ quang, Yên Tử.

"Phải trái rụng theo hoa buổi sớm
Lợi danh lạnh với trận mưa đêm

Hoa tàn, mưa tạnh, non im ắng

Xuân cỗi còn dư một tiếng chim."

(Mạn hứng ở sơn phòng - Thơ Trần Nhân Tông, Đỗ Văn Hỷ dịch)

-----------------
Ghi chú:
(*) Kèm theo mớ lá ngón của Xuân Nhọ mõm: "Nếu đây là bức tượng mà ông sư này tự tạc mình thì ông ta đã tự coi mình là Thích Ca Mầu Ni. Một sự nhạo báng vô cùng hỗn xược! Vì vậy cần ngay lập tức đuổi ông này khỏi chùa, và không cho phép trú ngụ ở bất cứ cơ sở thờ tự nào. Giáo hội Phật giáo VN cũng nên tạo điều kiện để sư này hoàn tục".

Thứ Hai, 15 tháng 9, 2014

Thoát Tàu là Thoát sư tử đá?

Khoảng hơn một tháng trước, khi thấy các “nhơn xỹ” ầm ĩ hội thảo bàn chuyện “thoát Tàu”, tôi còn đang phân vân lắm, vì chưa hiểu rõ, thoát Tàu là thoát cái gì.
Các “nhơn xỹ” thì nói như đinh đóng cột, rằng thoát Tàu, tức là thoát về “ý thức hệ”, nhưng “ý thức hệ” cuả Tàu, nó là cái gì? Bản chất có giống “ý thức hệ” của Ta không? Và nếu có giống nhau thật, thì tại sao các “nhơn xỹ” không kiến nghị để Tàu nó phải thoát Ta, mà lại cứ khăng khăng đòi Ta phải “thoát Tàu”? Lưu ý là nếu xét đến yếu tố “bản quyền”, thì “ý thức hệ” của Ta sinh ra trước Tàu vài năm, vậy Tàu nó phải “thoát Ta” thì mới là phải đạo.
Trong khi quan hệ Ta – Tàu từ trước đến nay, thì điều quan trọng nhất vẫn có đó:
Xưa, Tàu cho không, biếu không Ta đủ thứ (có lúc Tàu định “biếu” cả người, nhưng Ta không nhận) mà còn đách cấm được Ta chơi với Nga Xô,  rồi "uýnh" cho Mỹ cút, "uýnh" Ngụy nhào, "uýnh" Khờ me đỏ, sau lại "uýnh" luôn cả Tàu.
Xưa đã chả cản được ta "uýnh", và nay thì, làm cách nào để Tàu có thể cấm được Ta thực hiện “mong muốn làm bạn với tất cả các nước”, như Ta đã tuyên bố công khai với bàn dân thiên hạ, ngay trước mũi Tàu đấy thôi. (Sáng nay (15/9/2014), nghe tin radio, quả vải, quả nhãn Ta rồi đây sẽ sang “làm bạn” với dân Mỹ).
Do chả thấy vị “nhơn xỹ” nào đòi Tàu thoát Ta về “ý thức hệ”, tôi buộc phải đi đến kết luận rằng, thực chất các “nhơn xỹ” của chúng ta chỉ nhăm nhăm đòi “Ta thoát Ta”. Nhưng ngoài mồm các ông ấy cứ hô toáng lên là “thoát Tàu”.
Cho đến hôm nay đọc báo mới biết, hóa ra các nhà làm Văn Hóa nước nhà mới thực sự là người muốn thoát Tàu, thật đơn giản, bằng cách “bài trừ” những con sư tử đá.
Gì chứ “thoát Tàu” kiểu này thì tôi đồng ý ngay, nhưng vì lý do gì, để nói sau.
Quả vậy, một chiến dịch bài trừ “linh vật ngoại lai” ra khỏi các đền chùa, di tích, công sở, do Bộ Văn hóa đề xuất vừa được phát động và hưởng ứng rầm rộ.
Trong công văn của Bộ Văn Hóa, “linh vật ngoại lai” được chỉ đích danh là “sư tử đá” và  “một số vật phẩm khác”.
Cụ thể, thì đó là những con sư tử đá, tạc theo lối Tàu, ví dụ như hai chú này, đang canh cổng đình Yên Phụ:

"Linh vật ngoại lai": Sư tử đá tại đình Yên Phụ - Hà Nội
PGS Trần Lâm Biền, ủy viên Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia ví von " Đem hai tên lính ngoại quốc canh cửa nhà mình, liệu có được yên ổn?". 
Trước hết, phải nói là tôi không thấy ví von của PGS Trần Lâm Biền có tính thuyết phục chút nào, vì chỉ có những anh “có điều kiện” mới có thể thuê người nước ngoài canh cửa. Sau đó, nếu bàn đến chuyện liệu có được “yên ổn” với “lính ngoại quốc” thì mỗi ngày, có hàng trăm chuyến bay Việt do cơ trưởng là người nước ngoài lái và 100% hành khách vẫn giao trọn sinh mạng cho các “tên lính ngoại quốc” đấy thôi, sao không thấy ai thắc mắc.
Hơn nữa, những con sư tử đá ấy cũng không thể gọi là “lính ngoại quốc” vì  chúng được làm từ đá Đà Nẵng, Thanh Hóa hay Ninh Bình cả, lại do chính tay thợ Ta tạo tác. Tức là chỉ có mỗi cái hình dáng bên ngoài, lớp vỏ, là “theo kiểu Tàu”, thì có khác gì Ta mặc quần “phăng”, áo “phông” giặt bằng “xà bông”, nghĩa là toàn thứ “ngoại lai” cả, mà thiên hạ có ai gọi Ta là Tây đâu.
Xét thực chất, thì ở Tàu, con sư tử cũng không phải là một sinh vật bản địa, chính người Tàu cũng du nhập nó, mới thành ra con sư tử đá kiểu Tàu.
Thôi thì khi đã quyết dẹp bỏ các “linh vật ngoại lai” thì phải dùng các linh vật thuần Ta để thay thế. Linh vật Ta là thế nào, đại khái các nhà nghiên cứu cũng lúng túng, hiện nay tạm thống nhất lấy con Nghê để thay thế.
Ở Ta, ngoài con Nghê thì còn có mấy con khác được gọi là “linh vật”, từ voi đá, ngựa đá, chó đá, đến những con chưa biết đặt tên gì, nhưng phổ biến nhất vẫn là con Nghê. Con Nghê có mặt từ lan can cho đến cổng làng, cổng chùa, dinh thự, lăng tẩm, đền miếu với đủ loại hình thức (tượng tròn, phù điêu) và chất liệu (vữa vôi, đá, đồng, gỗ).
Con Nghê, thì cũng không phải là linh vật 100% thuần Việt, vì ở Tàu con sư tử đá có lúc còn được gọi là con Toan Nghê. Nhưng con Nghê ở ta trông vừa nhang nhác con sư tử lại vừa giống con cún con nên khi dịch ra tiếng Anh, các nhà chuyên môn ít khi dịch là lion mà hay dịch là fo dog, khổ thay, chữ Nghê trong tiếng Hán cũng gồm bộ Cẩu (chó) với chữ Nhi (trẻ con) mà thành.
Ta cũng chả có huyền thoại hay truyền thuyết gì về con Nghê, chỉ biết những con Nghê đã có mặt ở các di tích từ hàng nhiều trăm năm trước khi con “sư tử đá kiểu Tàu” đổ bộ vào di tích, đền chùa và công sở như ngày nay.
Nghê đá, đền vua Đinh, Trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình, thế kỷ 17

Nghê đá, lăng Ngọ tộc, Hiệp Hòa, Bắc Giang, thế kỷ 17

Nghê đá, đền Gióng, Gia Lâm, Hà nội, thế kỷ 17
Nghê đá, cửa Hiển Nhân, Đại nội, Huế, thế kỷ 19
Và đây là hai “linh vật thuần Việt” khác, rất đẹp, nhưng giới chuyên môn cũng chưa biết đặt tên là gì.
Bây giờ, ngắm Nghê, rồi so con Nghê với con sư tử Tàu, thì thấy rõ:
Con Nghê đầu to, chi trước mảnh dẻ hơn chi sau, thân trơn, có khi có vảy, dáng vẻ vẻ hiền lành. Mắt nhỏ vừa phải, miệng có khi ngậm khi há nhưng không phô ra hàm răng nhọn như để đe dọa. Trạng thái biểu cảm khá đa dạng, từ vui tươi (nơi cổng đình, cổng làng), nghiêm trang, cung kính (đền miếu) đến buồn rầu (nếu ở lăng tẩm).
So với con Nghê thì con “sư tử đá kiểu Tàu” có ít tính cách điệu hơn, nghĩa là thiên về tả thực dáng vẻ hung dữ, trấn áp với cơ bắp, móng vuốt, răng nanh và vẻ mặt.
Ví dụ như thế này:
Xét về độ oai phong, nghê không thể sánh được sư tử, ngược lại về sự thân thiện, thì Nghê gần gũi con người và cảnh quan hơn.
Về cách bố trí trên mặt bằng thì ở Ta, con Nghê và các linh vật khác thường được xếp theo vị trí “chầu”, như nghênh đón, tức là được đặt cân xứng hai bên lối đi, hướng nhìn vuông góc với trục giao thông (sân, đường). Còn ở Tàu, thì đôi sư tử đá được bố trí theo tư thế “trấn”, có cái nhìn uy hiếp và trực diện vào khách dọc theo trục đường.
Như đã nói ở trên, con Nghê cũng không hẳn là thuần Việt, vậy tại sao tôi lại đồng ý với việc thay thế “sư tử đá kiểu Tàu”?
Đơn giản, xem ảnh thì biết, chỉ vì tôi thấy con “Nghê” đa dạng, hiền lành và nhất là đẹp hơn con “sư tử Tàu” hung hăng và đơn điệu. Chỉ thế thôi, chứ không hề mơ mộng hão huyền thoát nọ thoát kia.
Nhưng, ở các di tích cổ, đền, chùa, đình, miếu, dùng Nghê, Sấu, Voi, Ngựa đá... thì được, chứ ở các nơi công sở, thay con sư tử đá bằng con Nghê, con Sấu, thì buồn cười lắm. Hay là ta cứ đặt quách con chó đá ở công sở, có khi lại hay các Ngài ạ, vì sẽ đỡ "trộm".
Thực tình, khi viết entry này, tôi vẫn hy vọng là các nhà làm công tác Văn Hóa nước ta không thiếu tự tin tới mức phải tiên phong “thoát Tàu”, bằng cách mở chiến dịch “bài trừ linh vật ngoại lai”, mà tội đồ chính là những con “sư tử đá ”, vốn được làm từ đá Việt và do chính thợ Việt tạo tác, chỉ tiếc, với hình dáng “kiểu Tàu”.
Có chút khôi hài là, để thoát khỏi những con “sư tử đá kiểu Tàu” vô tri vô giác, thì các nhà Văn Hóa lại dùng 4 chữ thuần Tàu là “Linh Vật Ngoại Lai”, (nếu cộng thêm 2 chữ “bài trừ” nữa thì là 6, cộng thêm 2 chữ “chiến dịch” nữa thì thành 8 chữ thuần Tàu...), thành ra các Ngài chưa “thoát” được chỗ nọ thì đã lại “nhập” chỗ kia.
Vì thế, tôi đâm lo xa rằng, trong khi loay hoay thoát nọ thoát kia theo cái cách đó, thì các nhà Văn hóa xứ ta lại không thoát được cái phép "thắng lợi tinh thần" của các chú AQ chính hiệu.

----------

Thứ Tư, 10 tháng 9, 2014

Độc lập từ trên trời rơi xuống ?

Gần đây, một vài nhà "rân trủ" bỗng nảy ra cái ý muốn ăn Tết mừng Độc lập vào ngày 11/3 chứ không đợi đến ngày 2/9 hàng năm nữa. Lý do, là với họ, ngày 11/3/1945 mới đích thực là ngày nước ta "thực sự độc lập", sau hơn 80 năm dưới ách thực dân Pháp.

Đành nhắc lại một chút các sự kiện lịch sử.

Số là, trong Thế chiến II, người Nhật tiến vào Đông Dương năm 1940 và họ buộc người Pháp phải ký các hiệp định cung cấp nguyên liệu, thực phẩm, tiền bạc phục vụ chiến tranh cho nước Nhật suốt 5 năm cho đến mãi đến đầu năm 1945.

Tất nhiên, khi Nhật đè đầu Pháp, thì họ vẫn dung dưỡng để Pháp cưỡi lên cổ dân An Nam, tức là những thứ phải nộp theo hiệp định thì Pháp lại bắt dân Đông Dương cung cấp, vì thế mới có chuyện "nhổ lúa trồng đay" và sau ta hay nói "một cổ hai tròng" là vì thế.

Tháng 3/1945, phe Đồng minh thắng thế, trước nguy cơ tan hàng của phe Trục (Đức, Ý, Nhật), ngày 9/3/1945 Nhật đành phải hất cẳng Pháp.

Trong khi Đảng Cộng sản cực kỳ nhạy bén và khẩn cấp ra chỉ thị "Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" nhằm tranh thủ cơ hội ngàn năm có một, thì đức Hoàng Đế Bảo Đại còn mải đi săn (Quảng Trị) và Thủ tướng Đế quốc Việt nam tương lai còn đang tĩnh dưỡng ở Singapore.


Vào buổi trưa hôm sau, 10/3/1945, Đại sứ Nhật ở Huế là Masayuki Yokoyama vào gặp Bảo Đại, đề xuất “trao trả độc lập cho Việt Nam để cùng nhau xây dựng khối Đại Đông Á thịnh vượng”

Khỏi phải nói, ngay hôm sau, 11/3/1945, Bảo Đại lập tức ra tuyên cáo bãi bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, nước Việt Nam được quyền thu hồi độc lập.

Aha, thế là xong, độc lập rồi, một nền độc lập giá bèo, không tốn đến một giọt máu.

Thật là một món quà từ trên trời rơi xuống! 

Nhưng, như người ta thường nói "tiền nào của đó", ta hãy xem món quà người Nhật ban tặng cho Quốc vương xứ An Nam có phải là một nền "độc lập thật sự" như "phát hiện" của các nhà "rân trủ" hay không.

Bằng cách tìm hiểu từ hai phía, cả "bên nhận" lẫn "bên cho".

Người "nhận quà" trực tiếp từ tay người Nhật là vua Bảo Đại, Ngài được đề nghị thành lập một nội các mới.

Để chuẩn bị nội các mới, đức vua nào đã thèm quan tâm đến Trần Trọng Kim. Trước hết, ngài biên thư mời ông Ngô Đình Diệm, lúc bấy giờ đang ở ngay Sài Gòn. Vua muốn, lại là vua của một nước vừa mới tuyên cáo "độc lập" muốn, nhưng người Nhật thì không. 

Mãi đến năm 1990, trong hồi ký "Con Rồng An Nam" xuất bản tại Pháp, Cựu Hoàng Bảo Đại mới kể lại về chuyện hai lần "độc lập" mời ông Ngô Đình Diệm làm thủ tướng năm 1945 nhưng hóa ra cái "độc lập" của người Nhật trao cho chẳng qua chỉ là chiếc bánh vẽ:
Ba tuần lễ trôi qua mà chẳng thấy tăm hơi Ngô Đình Diệm ở đâu. Trước thúc giục ngày càng khẩn thiết của tôi, Đại sứ Yokoyama trả lời là chưa thể tìm thấy vị thủ tướng được chỉ định này. Sự chậm trễ làm tôi suy nghĩ. Người Nhựt rất thành thạo những sự kiện xảy ra ở Việt Nam. Cơ quan tình báo của họ rất đắc lực và họ biết chỗ và biết cách tìm thấy nhân vật này. Về sau tôi biết, qua lời nói của Đại sứ Yokoyama là Ngô Đình Diệm không được cảm tình của chính phủ Nhựt.” 
Là vì con bài của người Nhật bấy giờ không phải là ông Diệm, mà lại là ông Trần Trọng Kim, ông Kim sẽ là người sẽ trực tiếp sử dụng món quà "độc lập" được ban tặng.
Ông Trần Trọng Kim được người Nhật chuẩn bị sẵn từ năm 1940 khi họ chiếm đóng Đông Dương. Đầu năm 1941, ông Kim được Nhật đưa qua Singapore, sau đó là Bangkok (Thái Lan). 
Trong khi ở Huế, Bảo Đại còn đang ngóng tin ông Diệm thì cuối tháng 3/1945, Nhật đưa máy bay sang Bangkok chở ông Kim về Sài Gòn và ngày 2/4 đưa ông ra Huế, sắp xếp để ông làm Thủ tướng chính phủ nhà nước Đế quốc Việt Nam.
Ông Kim có được "độc lập" xử sự hay không? Dĩ nhiên, câu trả lời là không.
Ngay khi khởi thảo thành lập nội các, ông phải trình bản danh sách các bộ trưởng cho Đức Vua và "tiện thể" là ngài cố vấn Yokoyama. Ngài "tình cờ" có mặt ở đó đúng lúc, bên cạnh ngai vàng, ngài cũng đòi xem qua danh sách, và thật may cho ông tân thủ tướng, Hoàng đế Bảo Đại cũng giống ông ở chỗ chả quan tâm đến quốc thể

Và đến lúc Nhật đầu hàng Đồng Minh, ngày 8/5/1945, ông Kim còn phải ra bản tuyên cáo, yêu cầu quốc dân "chúng ta chỉ phải giữ vững cuộc trị an trong nước và chịu những hy sinh cần thiết để cho quân đội Nhật Bản được chúng ta tận tâm giúp đỡ về mặt tinh thần và vật chất. Nền độc lập của chúng ta có như thế mới vững bền" (Việt Nam tân báo ra ngày 18/5/1945).

Tất nhiên, khi đã chịu "nhận" món quà "độc lập" từ tay người Nhật, thì người nhận là Bảo Đại và ông Kim không thể và không dám chê bai rằng nó chỉ là cái bánh vẽ. Nhưng phía người Nhật, thì họ biết họ cho hai ông cái giống gì.

Người Nhật nói gì về món quà "độc lập" mới trao? Xin mời đọc kỹ và có thể bỏ qua đoạn tiếng Pháp đoạn trích sau đây từ cuốn "Hơn nửa đời hư", đoạn "nhựt ký 1945", của cụ Vương Hồng Sển:

"Trong buổi nhóm tại Long Xuyên, trước mặt thân hào nhân sĩ và ông phủ Nguyễn Văn Tiếp làm chủ tỉnh tạm thời, ngày 30-3-1945, ông Satoh là Phó Thống đốc thay mặt ông Minoda thống đốc và có quyền hành rất lớn, đã nhạy miệng thổ lộ như sau:

Nguyên văn bằng chữ Pháp: 

“II y a un gros malentendu au sujet de l indépendance de l Indochine. Celle-ci toute entière ;st sous le contrôle “militaire du Japon. L indépendance de Empire d Annam et du royaume du Cambodge a été proclamée. La Cochinchine, non seulement se trouve sous” le contrôle militaire nais encore sous l administration militaire japonaise. Donc, pas l indépendance de la Cochinchine.


"Juridiquement, la Cochinchine était un pays franais! Juridiquement” vous étiez Franais. Vous étuez tous, sujets rancais, c est-à-dire des” Franais. Il y aurait bientôt une procla-nation du Commandant en chef de” l Armée japonaise. Vous allé? conquérir probablement la nationalité annamite. Au point de vue sentimental, je comprends que vous sentez annamites. Les habiants pourront donc pavoiser leurs maisons aux couleurs annamites. Pour les bâtiments publics, n arborez pas le drapeau annamite, on pourrait dire que c est l Empire d Annam qui gouverne la Cochinchine. Je ne sais pas quand cela arrivera. Personnellement, j en serais heureux, mais maintenant vous êtes sous l Administration militaire japonaise.

    “M. le Vice-Gouverneur insiste : “L Empire d Annam abrogé le traité de protectorat avec la France. L Empire d Annam était un pays protégé, et la Cochinchine était une terre franaise, maintenant, elle est sous le contrôle militaire japonais, 
(extrait du compte-rendu du passage de Monsieur le Vice-Gouverneur Satoh à Long Xuyen le 30 Mars 1945).

 Tôi xin tạm dịch:

“Hiện có một hiểu lầm rất lớn về chế độ độc lập của Đông Dương. Cho hay toàn cõi vẫn ở dưới quyền điều khiển của nhà binh Nhựt. Sự độc lập của đế quốc An Nam và của vương quốc Cao Miên đã được tuyên bố. Nhưng cõi Nam Kỳ vẫn dưới quyền kiểm soát và dưới quyền cai trị của nền hành chính quân đội Nhựt. Và như thế đâu có độc lập cho xứ Nam Kỳ.

"Đối với mặt luật, thì Nam Kỳ trước đây là một lãnh thổ thuộc Pháp. Đối với mặt luật, mấy ông đây đều là Pháp. Các ông đều là thần dân của Pháp tức người Pháp đó chi! Sắp có bản tuyên bố của quan tổng tư lịnh tổng quân đội Nhựt. Các ông sẽ thâu hồi đại khái quốc tịch An Nam. Luận về tình cảm, tôi hiểu được ông muốn được làm dân An Nam. Như vậy dân sự vẫn được treo quốc kỳ An Nam. Nhưng dinh thự công cộng không nên treo cờ An Nam, không khéo có người sẽ nói đế quốc An Nam ngự trị trên đất Nam Kỳ. Tôi chưa biêt việc ấy chừng nào sẽ đến. Riêng tôi, nếu chuyện nầy xảy đến, tôi sẽ rất vui mừng. Nhưng hiện nay các ông vẫn được đặt dưới quyền cai trị của nhà binh Nhựt”.

"Phó Thống đốc Satoh lại tiếp: 

“Đế quốc An Nam đã thủ tiêu tờ điều ước đô hộ của Pháp quốc. Đế quốc An Nam trước đây là một nước bị đô hộ, còn Nam Kỳ trước đây vẫn là một lãnh thổ Pháp, nay bị đặt dưới quyền kiểm soát của quân đội Nhựt...” (trích bản phúc trình cuộc tuần du tại Long Xuyên của Phó Thống đốc Satoh ngày 30/3-1945 hiện cất giữ tại nhà).


Đến đây, cụ Vương bình luận về "người cho", như sau:

"Than ôi! Một cục mỡ béo treo trước miệng mèo, một miếng thịt bít-tết ngon lành treo trước mõm chó, đất Nam Kỳ là một thiên đàng dưới dương gian, thảo nào người ta không thèm thuồng, hễ vớ được rồi là quyết ngoặc lại cho chắc, bao giờ chịu nhả ra! Lại còn giả đạo đức, lấy luật nầy luật kia ra nói! Cho nên sau nầy dẫu thua sát nước mà họ vẫn kiên trì không chịu trả Nam Kỳ lại cho ta, và khi cùng phương đối đế, không giữ được nữa họ mới đành buông bằng cách chôn súng rồi chỉ chỗ cho lấy, vân vân..."
 

Bản chất món quà "Độc lập thật sự" do đích thân người Nhật, người trong cuộc nói ra, là thế đó.

Thật là,

Vua chèo còn chẳng ra gì
Quan chèo vai nhọ, khác chi thằng hề

Vua đã thế, quan đã thế, thế còn dân chúng bấy giờ, họ là những người được hưởng thụ "nền độc lập"?

Theo lệnh vua ngày 17/3/1945, thì các hương thôn phải tổ chức cho dân chúng mừng ngày "độc lập" tại các đình làng.

Muốn biết, người dân hồi đó chào đón ngày "độc lập thực sự" như thế nào, có hý ha hý hửng như mấy nhà "rân trủ" ngày nay không, thì phải đọc ghi chép của cụ Nguyễn Vỹ, trong "Tuấn - chàng trai nước Việt" (quyển II, Saigon, 1970).

“Cửa đình mở rộng, trước sân đình có cờ, chuông, trống, như ngày cúng Thần. Hội đồng xã chỉ lưa thưa có mấy ông. Dân chúng chẳng ai đến cả, trừ một số chức việc có phận sự trong làng. Đến giờ, chuông trống nổi dậy, hương xã làm lễ tế Thần. Lý trưởng đọc lời "tuyên cáo độc lập". Y như một bài văn tế. Xong, chiêng trống tiếp tục và buổi lễ chấm dứt không đầy 30 phút. Không một tiếng vỗ tay. Không một lời hoan hô. Các ông làng xã, khăn đen áo dài khệ nệ như trong các đám cúng Thần theo nghi lễ cổ truyền, lặng lẽ đóng cửa đình sau khi dọn dẹp”.

Quái lạ thật! 

Trong suốt hơn 80 năm đấu tranh không ngừng nghỉ, biết bao nhiêu xương máu của những người nông dân từ ven sông Cần Giuộc đến núi đồi Yên Thế đã hy sinh, chỉ một mục đích là dành độc lập cho đất nước. Đến lúc bỗng nhiên có "độc lập", mà lại là "độc lập thật sự" từ trên trời rơi xuống, đáng lẽ dân chúng phải mừng lắm chứ nhỉ? 

Mừng, đến mức phải rú lên như các nhà "rân trủ" ngày nay ấy chứ lỵ?

----------------------