Thứ Hai, 25 tháng 1, 2016

Văn tế rùa Hồ Gươm







-----------
Hỡi ôi!

Sóng nước lao xao,
Lộc vừng bối rối,
Đền Ngọc Sơn gió bấc đìu hiu,
Cầu Thê Húc thoảng mùi thôi thối,
Tưởng đâu từ nơi đống rác, quân vô lương đổ trộm xuống hồ?
Thì ra là xác ông Rùa, chết đột quỵ nhẽ chưa kịp trối!
(Thôi thì
Kêu bằng ông cũng lắm kẻ la,
Gọi bằng cụ hẳn không phải lối,
Mặc kệ họ la,
Cứ “ông” tôi gọi)
...
Nhớ linh xưa
Giống hiếm nòi khan,
Con dòng cháu dõi,
Cùng Ếch, Nhái, Thằn lằn - chính danh bò sát lưỡng cư,
Với Rồng, Phượng, Kỳ Lân - góp mặt tứ linh một hội,
Đường Tam Tạng đã từng quịt tiền đò,
Thần Kim Quy vốn là ông tổ nội.
Còn nhỏ ông chạy đua với Thỏ, nhờ mưu cao nên về đích trước tiên,
Lớn lên ông làm bạn với Sên, nết cẩn trọng chả bao giờ thèm vội!
Tính ưa đồng trũng ao hồ,
Chẳng chịu phồn hoa đô hội,
Ông quê ở chốn Lam Kinh,
Vua vác ông ra Hà Nội.
Ông uống phải nước Hồ Gươm,
Ông ăn cả gươm Lê Lợi.
Mà ông to phải cỡ mét ba,
Và ông nặng đến hơn tạ rưỡi.
Ông ốm đâu có một đôi lần,
Rồi thọ đến hơn ba trăm tuổi,
Tính ông kiên định, cắn rồi thì ngậm mãi không buông,
Miệng ông thép gang, muốn nhả ắt phải chờ sấm dội.
Hành tung ông khi chìm khi nổi, dân ghi nhận rất mực thất thường,
Công trạng ông lúc thụt lúc thò, sử chép lại bỗng thành chói lọi.

Thương ôi!
Bao nhiêu năm, hồ nọ thỏa thích rong chơi
Chợt một chiều, xác kia lềnh phềnh sóng nổi
Lá úa trên cao rụng đầy  
Ba ba cũng đành chết đuối!
Tiến sĩ, giáo sư tranh luận búa xua,
Kền kền, lá cải đưa tin ỏm tỏi,
Quân thối mồm đã được dịp phán nhăng,
Bọn nhọ mõm lại thừa cơ đồn thổi
Chẳng biết rằng: Sinh Lão Bệnh Tử, sự vốn vô thường
Cũng nhờ vậy: Xuân Hạ Thu Đông, đời luôn đổi mới

Ôi thôi thôi!
Ruột gan kia nào ai nghĩ đến chuyện xào hành,
Thân thế ấy đố thằng mô dám đem rang muối!

Nay tế ông đây:
Một thúng chuối xanh,
Một giành ba rọi,
Một gói riềng nghệ mắm tôm,
Một ôm tía tô kinh giới,
Đậu phụ chín tới, bỏ chảo xào chung,
Hành tiêu lung tung, rắc lên nóng hổi.
Hồn ông thiên đình,
Xác ông hạ giới,
Ông ăn cho no,
Ông bò cho tới,
Gần thì ngay Ngọc Sơn đây, hễ muốn tiêu bản thì tiêu?
Xa thì sang Văn Miếu đó, có thích đội bia thì đội?

Từ từ,
Đừng vội!
-----------



Thứ Hai, 18 tháng 1, 2016

Cái ơn con ... tự (5, hết)




(Vài chuyện về chữ quốc ngữ)
  ------------
“Công lênh” người Pháp trong việc “quảng bá” chữ “quốc ngữ”

Như vậy có thể thấy chữ “quốc ngữ” ra đời muộn nhất phải là khi giáo sĩ người Bồ Đào Nha Francisco de Pina “bắt tay vào Ngữ pháp” (tiếng Annam)  như ông kể trong bức thư viết dở đầu năm 1623. Trong suốt hơn 200 năm tiếp theo, chữ “quốc ngữ” chỉ được sử dụng theo đúng mục đích ban đầu mà các giáo sĩ phương Tây đề ra, là dùng nó như một phương tiện để truyền giáo cho người Việt mà thôi, tức là trong một phạm vi rất hẹp giữa các giáo sĩ và giáo dân, và không phải cứ là giáo dân thì ai cũng được học và muốn học.
Chẳng hạn, mục đích này được khẳng định trong cuốn từ điển Việt-La (Dictionarium Anamitico-Latinum) xuất bản năm 1838, viết bởi giám mục người Pháp Pierre Pigneaux (được biết nhiều hơn với cái tên Bá Đa Lộc, kẻ đã thay mặt Nguyễn Ánh chơi canh bạc Hiệp ước Versailles 1787 với nước Pháp, gán đảo Côn Lôn và cảng Đà Nẵng để đổi lấy 1.650 lính sơn đá và 4 chiến hạm) – phần lời người xuất bản có đoạn: "Muốn kéo vào đạo Ki Tô những nhà nho hay những quan chức có thế quyền trong xã hội Đàng Trong, thì phải nhử họ và chinh phục họ ở lĩnh vực mà họ giỏi. Tôn giáo phải được trình bày với họ trong một ngôn ngữ và phong cách toàn hảo. Cuốn sách được làm ra như là một công cụ cần thiết cho những nhà truyền giáo Âu Châu, cho các thầy giảng giáo lí Việt Nam, và nhắm vào việc in ấn sách tôn giáo có chất lượng. Cuốn sách không phải là một thứ tiêu khiển trí thức mà là một công cụ truyền đạo trong giới Hán-Việt"
Nhưng vào cuối thế kỷ 19, khi mà đại bác của người Pháp đã hoàn thành nhiệm vụ “khai hóa” của chúng, thì bây giờ đến lượt khẩu súng “chữ nghĩa” được lên đạn để nhắm vào tầng lớp trí thức Việt, thời bấy giờ là giới văn thân Nho học, vốn luôn là mầm mống của các cuộc phản kháng. “Bác ái” thay, mưu toan này vẫn được “đề xuất” bởi các nhà truyền đạo thuộc dòng dõi cụ cố Rốt, đó là Hội thừa sai Paris.
Toàn quyền Đông Dương (1891-1894) J.P Lanessan trong cuốn Đông Dương thuộc Pháp (L’Indo-Chine francaise, Paris, Alcan 1889) cho biết: “Linh mục Puginier mà cho đến nay có một ảnh hưởng nổi trội ở Tonkin, là người đã gợi ý cho phần lớn các hành động của những nhân viên của chúng ta, chính ông cũng đã phải công nhận rằng “đảng các nhà nho” – ông mệnh danh cái tầng lớp có học của dân chúng và những người theo họ như thế – thực sự là một đảng quốc gia. Ông linh mục này nài nỉ với tôi về sự cần thiết phải tiêu diệt các nhà nho. Tôi không thể không nói cho ông ta hiểu rằng  chính sách đó làm cho chúng ta mất đi những người (Annam) giàu có nhất, có học nhất và đẩy chúng ta một cách không thể tránh được việc chinh phục và thôn tính.” (dẫn theo Người Pháp và người Annam – Bạn hay thù, tác giả Philippe Devillers).
Còn đây, là lời của chính Puginier:
“Cần phải dạy càng sớm càng tốt cho người An Nam viết và đọc được tiếng họ bằng chữ Âu Châu, việc này dễ hơn và tiện lợi hơn dùng chữ Nho. Trong vài năm sau, cần phải bắt buộc mọi giấy tờ chính thức không được viết bằng chữ Nho như trước nữa, phải viết bằng tiếng trong nước, mỗi viên chức ít nhất phải được dạy đọc và viết tiếng An nam bằng chữ Châu Âu. Trong lúc đó việc dạy chữ Pháp sẽ tiến triển nhiều hơn và chúng ta chuẩn bị một thế hệ để cung cấp các viên chức có học tiếng nước chúng ta. Như thế có lẽ trong vòng 20 hay 25 năm chúng ta có thể bắt buộc mọi giấy tờ đều viết bằng tiếng Pháp, do đó chữ Nho sẽ dần dà bị bỏ rơi mà chúng ta chẳng cần phải cấm đoán gì.
Khi chúng ta đạt được thành quả lớn lao đó, chúng ta xóa đi của nước Trung hoa một phần lớn ảnh hưởng tại An nam và phe trí thức An nam là phe rất căm ghét sự thiết lập thế lực Pháp, cũng sẽ bị tiêu diệt dần dần.
Vấn đề này có tầm quan trọng rất lớn, sau khi đạo Thiên Chúa được thiết lập, tôi xem việc tiêu diệt chữ Nho và thay thế dần dần ban đầu bằng tiếng An nam, rồi bằng tiếng Pháp như là phương tiện rất chính trị, rất tiện lợi và rất hiệu nghiệm để lập nên tại Bắc Kỳ một nước Pháp nhỏ ở Viễn Đông.
Tiêu diệt tầng lớp Nho học, linh hồn của hầu hết các phong trào yêu nước chống xâm lược và nền cai trị thực dân, thông qua việc xóa bỏ chữ nho, đó chính là mục tiêu mà người Pháp nhắm tới khi bắt tay vào việc “quảng bá” chữ “quốc ngữ” cho người Việt. Họ bắt đầu từ xứ thuộc địa Nam kỳ.
Để chuẩn bị cho việc đưa chữ "quốc ngữ" ra khỏi phạm vi nhà dòng, vào năm 1861, thống đốc Nam kỳ là đô đốc Charner cho phát hành cuốn từ điển song ngữ Francais-Annamite et Annamite-Francais do sĩ quan hải quân Gabriel Aubaret biên soạn. Cuốn từ điển này đánh dấu thời kỳ bắt đầu sử dụng tiếng Việt của các sĩ quan người Pháp trong công việc hành chính.
Tháng 9-1864, thống soái Nam Kỳ là đô đốc P.M de la Grandière nhận định: “Tôi có mọi lý do để hi vọng, nếu việc theo học các trường của chúng ta tiếp tục, trong chưa đầy một năm, chúng ta sẽ có ít nhất một nghìn thanh niên Annam biết đọc và biết viết ngôn ngữ của họ bằng mẫu tự Latin; nhờ đó chúng ta sẽ tống một cú đánh chết người vào chế độ quan lại, và chúng ta sẽ tự mình gỡ bỏ được lớp văn thân là các kẻ luôn luôn có khuynh hướng gây xáo trộn (Milton E Osborne – Giáo dục và chữ quốc ngữ – sự phát triển một trật tự mới 1859-1905 - Ngô Bắc dịch).
Tháng 4-1865, Grandière cho phát hành tờ Gia Định báo, đây là tờ công báo đầu tiên dùng tiếng Việt viết theo mẫu tự La-tinh, do Ernest Potteaux làm chánh tổng tài (tức chủ bút). Tờ Courrier de Saigon ngày 5-4-1865 thông tin về số đầu tiên của Gia Định báo như sau : "Trong tháng này sẽ có số thứ nhất một tờ báo in bằng tiếng An-nam thông thường. Dưới một hình thức thu hẹp ấn bản sẽ gồm các tin tức ở thuộc địa, giá cả nhiều loại hàng và một vài ý niệm hữu ích cho người bản xứ. Tờ báo sẽ ra hàng tháng và sẽ phát không trong các trường học để học sinh khá trong các làng mạc có thể đọc được ...".
Tờ công báo Gia Định báo là cái mốc đầu tiên đánh dấu việc chữ "quốc ngữ" bắt đầu thâm nhập vào xã hội dân sự Nam kỳ. Nhưng cũng phải đến 13 năm sau,  nghị định ngày 6-4-1878 do đô đốc hải quân J. Lafont ký mới ra đời, chính thức bắt buộc hạn chót đến 1-1-1882 toàn xứ Nam kỳ phải dùng chữ “quốc ngữ” trong các giao dịch hành chính, áp dụng cả trong việc tuyển dụng hay thăng thưởng các quan lại.
Trích nội dung:
“Xét rằng chữ viết của tiếng An Nam bằng mẫu tự Latin ngày nay đã khá phổ thông trong các tỉnh Nam kỳ, là thứ chữ dễ học hơn chữ Nho và tiện lợi nhiều so với chữ Nho trong việc làm cho những giao dịch giữa các quan cai trị với dân bản xứ được trực tiếp hơn. Xét rằng việc dùng hợp pháp thứ chữ đó chỉ làm cho dân chúng dễ đồng hóa với chính quyền ta, và vì thế thật là một đường lối chính trị tốt nếu bắt buộc dùng nó trong các giao dịch chính thức. Tuy nhiên, xét rằng một cải cách quan trọng như thế không thể thực hiện được ngay tức khắc, và để thực hiện nó cần có sự cộng tác của những tầng lớp lãnh đạo trong dân chúng. Chiếu đề nghị của quyền giám đốc nội vụ, sau khi hội đồng tư vấn đã được hội ý kiến, nay ra nghị định:
Điều 1: kể từ ngày 1-1-1882 tất cả những văn kiện chính thức, nghị định, quyết định, sắc lệnh, phán quyết, chỉ thị… sẽ được viết, ký và công bố bằng chữ mẫu tự Latin.
Điều 2: kể từ ngày trên, không một tuyển dụng nào được thi hành, không một thăng trật nào được cho phép, trong ngạch phủ, huyện, tổng đối với bất cứ ai không ở trong tình trạng viết được chữ “quốc ngữ”...
(Recueil de la Législation et Règlementation de la Cochinchine, 1880 - Nguyễn Văn Trung – Chữ, văn quốc ngữ thời kỳ đầu Pháp thuộc).
Giám đốc Nha nội vụ Béliard, trong thông tư ngày 10-4-1878 đánh giá: Chúng ta sẽ rất lợi cả về mặt chính trị lẫn thực tế, nếu làm tiêu tan dần dần chữ nho mà việc dùng thứ chữ đó chỉ có thể có một ảnh hưởng tai hại đối với công trình đồng hóa mà chính phủ đang dồn mọi nỗ lực thực hiện”.
Để làm được việc đó, song song với việc “cưỡng bức” và "giao chỉ tiêu" cho các làng xã, người Pháp ở Nam kỳ còn nghĩ ra nhiều cách “khuyến mãi” để người dân từ bỏ chữ nho, ví dụ miễn học phí, thưởng tiền, giảm thuế thân cho người đi học hoặc đã biết chữ “quốc ngữ”. Thông tư ngày 28-10-1879 do thống đốc Nam kỳ Le Myre de Vilers ký cho hay: chiếu theo những nhu cầu đích thực của xứ này và quyền lợi của nước Pháp chúng ta... tôi tin chắc trong 10 năm, chúng ta có thể cấm dùng chữ nho...Tôi cũng không ngần ngại phát những trợ cấp ban đầu từ 50 đến 100 quan cho những làng nào viết được công văn bằng chữ quốc ngữ”.
Vì quyền lợi nước Pháp mà Le Myre de Vilers cấm (người Việt) dùng chữ nho, chứ với các ông Tây, thì viên thống đốc này lại “khuyến mãi” gấp bội, nếu như họ biết chữ nho: “Những công chức và nhân viên mọi ngạch hành chánh, dân sự ở Nam kỳ, các quan tòa, sĩ quan và hạ sĩ quan phụ trách việc chỉ huy binh lính, nếu được chứng minh bởi một hội đồng giám khảo, là biết tiếng Annam thì sẽ được thưởng trong thời gian ở thuộc địa một trợ cấp hàng năm là 100 quan về viết được chữ quốc ngữ và tiền thưởng đó sẽ được tăng lên 200 quan nếu viết được chữ nho.” (Le Myre de Vilers - Nghị định ngày 23-7-1879)
Và ngày 30-1-1882, đánh dấu việc người Việt (Nam kỳ) bắt đầu chính thức sử dụng “chữ quốc ngữ” theo nghị định do Le Myre de Vilers ban hành: “...kể từ ngày hôm nay, việc chỉ dùng những mẫu tự Pháp trở thành bắt buộc trên toàn cõi Nam kỳ thuộc Pháp, trong những giấy tờ chính thức viết bằng tiếng An Nam”(Nguyễn Văn Trung – Chữ, văn quốc ngữ thời kỳ đầu Pháp thuộc).
Do người Pháp chia nước ta thành ba miền với ba chế độ cai trị (với ba hệ thống văn bản pháp luật khác nhau) nên ở Trung kỳ và Bắc kỳ, các quy định của thống đốc Nam kỳ không có hiệu lực vì vậy việc sử dụng  chữ “quốc ngữ” tiến triển chậm hơn nhiều so với phía Nam. Mãi đến năm 1910, người  Pháp vẫn chưa thể loại bỏ hẳn chữ nho.
Ngày 21.12.1917, toàn quyền Albert Sarraut ban hành bộ Học-chính tổng-qui  qui định về các bậc học đặt chung dưới sự điều hành của Phủ Toàn quyền gồm trường Tây (tiểu học, cao đẳng tiểu học, trung học); trường bản xứ (tiểu học, bổ túc, trung học) và trường chuyên nghiệp.
Trong đó quy định ở bậc tiểu học, mỗi tuần có thời lượng (tối đa) là 1,5 giờ dành cho Hán tự so với tiếng Pháp có thời lượng (tối thiểu) là 12 giờ/tuần. Ngoài ra còn quy định: “dạy Hán tự phải theo chương trình nhà nước. Buổi dạy Hán tự, giáo viên kiêm đốc học nhà trường phải có mặt ở lớp để giữ kỷ luật, không nên để thầy đồ dạy một mình”.
Như vậy có thể thấy đến khi đó, tiếng Việt - “quốc ngữ” còn chưa được dạy cho bậc tiểu học và giờ Hán văn thì cả thầy cả trò còn bị theo dõi, kiểm soát ngặt nghèo y như họ đang hành sự “quốc cấm”.
Ở bậc trung học, thì “quốc ngữ” và Hán văn được “tích hợp” vào chung một môn, gọi là quốc văn, tổng thời lượng là 3 giờ/tuần. Còn tiếng Pháp và lịch sử (dĩ nhiên là lịch sử nước Pháp và dạy bằng tiếng Pháp) chiếm tới 12 giờ/tuần với mục đích là “dạy cho học trò thực thông tiếng Pháp, vì tiếng Pháp là mối yếu cần cho sự học vấn về sau. ”
Cụ Hoàng Ngọc Phách, học trường Bưởi, Hà Nội từ 1914-1918 ghi lại trong hồi ký: “Thật là ngược đời! Việt văn bị coi như một ngoại ngữ” và “cả hai thầy (dạy chữ Hán và Việt văn) đều là thầy giáo phụ. Đến trường thường đứng ở hành lang hoặc ngồi ở các buồng giám thị, không bao giờ vào phòng giáo sư”.
Xem thế thì biết người Pháp thực dân tuy “bắt buộc” người Việt dùng “quốc ngữ” trong các giao dịch hành chính đấy, nhưng thực tế họ cũng có muốn cho người Việt đọc thông viết thạo cái chữ đó đâu?
Thậm chí, viên công sứ Pháp tại Bình Thuận là Aymonier từng đề xuất dạy cho người Việt một thứ tiếng bồi mà ông ta gọi đích danh là... tiếng Tây “nô lệ” (nègre), bằng cách: "tạm bỏ đi trong tiếng Pháp những điều không theo quy tắc chính tả, những khó khăn văn phạm, số lớn những từ đồng nghĩa và những từ trừu tượng, hầu hết các phép chia động từ (ngoại trừ ở một số ngôi thứ ba số ít, và các động từ không ngôi ), như vậy sẽ còn lại một tiếng nói giản gọn, tiếng "mọi (nègre)" chúng ta có thể hiểu thế, có dáng điệu nói của tỉnh lẻ, nhịp nhàng, nhưng cũng đủ để diễn tả những tư tưởng cụ thể. Ví dụ như từ “amour” sẽ loại bỏ đi vì có thể dùng “aimer” thay thế; “parler” dùng thay cho parole." (Theo Việt Nam - Chữ viết, Ngôn ngữ và Xã hội -  TS. Nguyễn Phú Phong, GS. Đại học Paris 7). 
Mặc dù ngày 19-9-1924, toàn quyền Đông dương ra nghị định sửa đổi lại ba điều trong bộ Học chính Tổng qui từng gây làn sóng bất bình trong báo giới, để cho phép phổ biến chữ “quốc ngữ” nhiều hơn ở bậc tiểu học nhưng tổng quan, chương trình giáo dục thời đó vẫn dùng tiếng Pháp làm chuyển ngữ và chịu ảnh hưởng nặng nề từ chương trình Pháp. Mãi đến sau năm 1945, thì chương trình này mới được thay thế bằng bộ giáo khoa do ông Hoàng Xuân Hãn biên soạn, được áp dụng trước ở Bắc và Trung. Riêng Nam kỳ, vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục dài dài đến 1955 mới được Việt hóa, sau khi nhà cầm quyền họ Ngô phát động chiến dịch "đả thực bài phong".
Như vậy, với mục đích tối hậu là xóa sổ tầng lớp trí thức nho học Việt Nam mà người Pháp bất đắc dĩ phải dùng đến cái phương tiện rất chính trị, rất tiện lợi và rất hiệu nghiệm” (chữ của cố đạo Puginier) là cái chữ “quốc ngữ”. Họ “có công” đưa chữ “quốc ngữ” vượt ra khỏi hàng rào nhà thờ và rồi “quảng bá” chúng thành một thứ chữ viết bắt buộc thông qua các nghị định và một số trường lớp, nhưng chính họ cũng tìm mọi cách khống chế để không cho nó lan tỏa. Thậm chí họ còn chẳng ngần ngại ra tay đàn áp, bắt bớ, tù đày đối với các tổ chức “truyền bá quốc ngữ” tự phát của người Việt như phong trào Duy Tân, Đông kinh nghĩa thục và cả với Hội truyền bá quốc ngữ sau này.
Và sau rốt, thì chỉ cần một “con số vĩ đại”: Hơn 90% người Việt Nam “mù” chữ dưới thời Pháp thuộc (thống kê năm 1930 của người Pháp cho biết cứ 100 người Annam thì chỉ có 1,8 người biết chữ) đủ nói lên toàn bộ công lênh "khai hóa văn minh" và "cho người Việt cái chữ" của các ông Pháp thực dân. Nào, vậy thì ơn huệ cái... gì?

-----------



Thứ Ba, 12 tháng 1, 2016

Cái ơn con ... tự (4)






(Vài chuyện về chữ quốc ngữ)
------------

Tại sao người Pháp nhận vơ “công tích” cụ cố Rốt?

Như đã nói ở kỳ trước, từ thời thực dân đô hộ đến nay, các học giả Tây, ta đều thừa biết chữ “quốc ngữ” hình thành là do công tập thể của nhiều người, trong đó có "người Bồ Đào Nha và người Annam". Nhưng tại sao người Pháp lại dựng bia ghi công mỗi cụ cố Rốt mà không đả động đến những người khác? Nguyên do chỗ này vốn có một chút nhập nhằng khôn khéo của người Pháp. 
Đầu tiên là bởi trong số những người “có công”, chỉ có cụ cố Rốt là người sinh ra ở xứ Avignon, là xứ nói tiếng Pháp, tiếng “mẫu quốc” nên dễ “lập lờ đánh lận con đen” hơn cả. Lý do thứ hai là vì cụ chính là "ân nhân" của người Pháp khi lập ra Hội thừa sai Paris (M.E.P, mà mãi đến năm 1950 vẫn đóng đinh trên khắp các giáo xứ ở Việt Nam) và nhờ đó đưa lối dẫn đường cho người Pháp thực dân đặt chân vào Đông Dương sau này. Lý do thứ ba có vẻ hữu lý hơn cả là về mặt chứng tích văn bản, chỉ có 3 tài liệu của cụ Rốt, mà nổi tiếng nhất là cuốn Từ điển Việt- Bồ-La (dẫu rằng do cụ “đạo” từ một phần “công khó” của các cụ cố khác người Bồ) được Thánh bộ Truyền giáo đức tin La Mã cho in vào năm 1651. Và thế là quá đủ cho họ vơ nhằng, rằng cụ cố Rốt là người Pháp, có thế thì mới tôn được cái công lao “khai hóa”, truyền bá “văn minh” của họ đối với người Việt và xóa mờ ấn tượng về nền cai trị thực dân tàn độc của họ.
Từ điển Việt-Bồ-La - Nhờ "công khó" của các cụ cố đạo khác mà cụ Rốt viết ra được cuốn này và nhờ được in cuốn này mà cụ Rốt trở thành "ông tổ chữ quốc ngữ" (?)
Quả là cụ cố Rốt có sinh ra và lớn lên ở xứ Avignon, vùng giáp ranh Pháp Ý và xứ này nói tiếng Pháp thật, nhưng mẹ cụ là người Ý, vậy cứ theo nghĩa đen thì tiếng “mẹ đẻ” của cụ phải là tiếng Ý chứ không phải tiếng Pháp? Nhưng, cho dù tiếng “mẹ đẻ” của cụ có là tiếng Pháp đi nữa thì cũng chưa thể kết luận cụ là người Pháp, như những người Bỉ, người Canada, vẫn nói tiếng Pháp đó thôi hoặc người Singapore, chẳng lẽ lại là người Anh lai Tàu vì họ nói cả tiếng Anh lẫn tiếng Tàu.
Hơn nữa, là từ khi sinh ra cho đến lúc chết (1591-1660), cụ cố Rốt chưa bao giờ có “vinh hạnh” được là người của nước Pháp thần thánh. Thậm chí đến mười đời cụ Rốt, tức là từ cụ cao tằng tổ khảo cho tới các chắt chít nhà cụ Rốt cũng chẳng thể có cái "vinh hạnh" đó. Lý do thật đơn giản, là vì vùng đất Avignon, trong suốt 440 năm (từ 1348 đến 1789, thời gian này tương đương ít nhất là 10 thế hệ nhà cụ Rốt) không hề thuộc về nước Pháp. Nguyên tổ tiên Alexandre de Rhodes là người gốc gác Do Thái từng cư trú tại Tây Ban Nha. Năm 1624, ông theo tàu buôn của Bồ Đào Nha từ Macao đặt chân lên Đàng Trong với danh nghĩa là một giáo sĩ và là thần dân nước Bồ Đào Nha. Còn xứ Avignon thì mãi đến khi nổ ra Cách mạng Pháp, năm 1789 mới được sáp nhập vào nước Pháp. Tính xem, khi đó cụ cố Rốt đã về chầu Chúa được tới 129 năm còn gì (cụ mất tại Iran năm 1660). Trước Cách mạng Pháp, cụ thể là từ năm 1348, thì xứ Avignon vẫn là vùng nhượng địa thuộc về Giáo hội, được mua với giá 80.000 florin, và là nơi Giáo hoàng từng đặt Tòa Thánh, tương tự như Vatican ngày nay không thể gọi là thuộc Ý vậy.
Trước khi đến Phương Đông, cụ Rốt dĩ nhiên đã phải tuyên thệ trung thành với tư cách là nhà truyền giáo đặt dưới sự bảo trợ của triều đình Bồ Đào Nha, nhưng rồi vào năm 1653, cụ Rốt đã trở thành một kẻ phản phúc khi quay lưng lại những quyền lợi của Bồ Đào Nha và chạy sang nước Pháp, để nhờ nước Pháp thần thánh “cung cấp cho tôi nhiều chiến sĩ đi chinh phục toàn cõi Đông Phương” (me fournirait plusieurs soldats qui aillent à la conquête de tout L’orient). Vì thế, lẽ đương nhiên là “ông bị triều đình Bồ Đào Nha coi như một kẻ thù của nước này”, như Jean Lacouture, nhà nghiên cứu văn hóa nổi tiếng người Pháp cho biết.
Nhưng cứt trâu để lâu hóa bùn, vài trăm năm sau đó, khi cần thiết phải phục vụ cho các mục đích chính trị và mị dân của mình, người Pháp thực dân không bỏ lỡ cơ hội, nhận bừa cụ cố Rốt là người Pháp, để rồi tuyên bố: “Công lao phát minh ra chữ quốc ngữ chính là của người Pháp, Giám mục Alexandre de Rhodes” như học giả kiêm linh mục người Pháp là Léopold Cadière phát biểu năm 1912, trong một cuộc hội thảo ở Paris.
Từ đó, quan niệm cố Rốt là người “nước mẹ” được đưa vào sách giáo khoa bậc tiểu học và các học giả ta hầu như không bận tâm nghi ngờ điều đó, chẳng hạn năm 1927, học giả Phạm Quỳnh (báo Nam Phong, số 122) đã viết: Chữ Quốc ngữ là do các cố Tây sang giảng đạo bên Việt Nam đặt ra vào thế kỷ 17..., chắc cùng nhau nghĩ đặt, châm chước, sửa sang trong lâu năm, chứ không phải một người nào làm ra một mình vậy”.
Giáo sư Đào Duy Anh, cũng đã viết: “Thứ chữ này nguyên do các nhà truyền giáo Gia Tô đặt ra..., sau do hai nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha, rồi sau đến cố A.de Rhodes người Pháp tổ chức lại thành một thứ chữ thông dụng trong truyền giáo hội, tức là thủy tổ chữ quốc ngữ ngày nay".
Giáo sư Dương Quảng Hàm: “Việc sáng tác ra chữ Quốc-ngữ chắc là một công cuộc chung của nhiều người, trong đó có cả giáo sĩ Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Pháp Lan Tây (tiếng La-tinh là ngôn ngữ dùng để truyền đạo Ki-Tô). Nhưng người có công nhất trong việc ấy là cố đạo người Pháp Alexandre de Rhodes, vì chính ông là người đầu tiên đem in những sách bằng chữ Quốc-ngữ, thứ nhất là một cuốn tự điển khiến cho người sau có tài liệu mà học và nghiên cứu”.
Riêng nhà báo Đào Trinh Nhất, như trong bài viết đăng trên báo Phụ Nữ Tân Văn số 118, ngày 4-2 -1932 đã dẫn ở kỳ trước, chẳng những đã tuyên bố cụ Rốt “không phải là người đặt ra chữ quốc ngữ”, hơn thế, ông còn chỉ rõ cụ Rốt cũng cóc phải là người Pháp mà “là người Y-Pha-Nho” (tên gọi hồi đó của nước Tây Ban Nha).
Nhưng cho dù các học giả đáng kính nêu trên có chút nhầm lẫn ở chi tiết “cố Rốt là người nước Pháp”, có thể trước hết là vì uy tín học thuật của Léopold Cadière quá lớn, và sau nữa là bởi sự đặt điều và ràng buộc của chính quyền thực dân, chốt lại, họ đều đi đến cái kết luận việc chữ “quốc ngữ” ra đời là kết quả của một tập thể chứ chẳng riêng gì công ông cố Rốt.
Chẳng những dựng chuyện cụ Rốt là “người Pháp” và cấp bằng “độc quyền phát minh” ra chữ “quốc ngữ” cho cụ, rồi ghi vào sách giáo khoa dạy người Việt, những năm sau này (1941- 1944) để làm đối trọng với cường quốc Nhật Bản khi ấy cũng đang “giương cao ngọn cờ Đại Đông Á” nhằm lôi kéo người Việt ngả sang phe Trục, chính quyền Pháp còn mở hẳn một chiến dịch có quy mô lớn để tuyên truyền trong tầng lớp thanh niên học sinh về công lao “khai hóa” của cụ cố Rốt và người Pháp.
Chiến dịch tuyên truyền bao gồm: dựng bia và nhà bia ghi công Alexandre de Rhodes ở Bờ Hồ năm 1941 như đã nói, thành lập hội Alexandre de Rhodes (8-1942). Tổ chức in tem kỷ niệm và đặt ra các giải thưởng văn học (1943-1944), trong đó có giải mang tên Alexandre de Rhodes, giá trị 1000 đồng bạc Đông Dương (tương đương khoảng 17.000 franc Pháp), dành cho tác phẩm dịch từ tiếng Pháp sang chữ quốc ngữ và phát thưởng vào ngày quốc khánh nước Pháp 14-7. Đồng thời trong những năm đó, nhà cầm quyền thực dân còn đặt ra “tủ sách Alexandre de Rhodes” và tài trợ toàn bộ nguồn vốn cho việc xuất bản các cuốn sách thuộc “tủ sách” này.
Tem kỷ niệm cụ Cố Rốt in năm 1943 – Họa sĩ Bùi Trang Chước vẽ

Giải thưởng văn chương của Hội Alexandre de Rhodes -Tràng An báo, số 41, 28-7-1942 (nguồn Thư viện báo chí thuộc Thư viện quốc gia)
Tất nhiên người Việt khi ấy cũng chẳng mấy ai còn có hứng ca tụng cụ cố Rốt theo "định hướng" của người Pháp. Thế rồi, chiến dịch tuyên truyền về công lao “khai hóa” của người Pháp thực dân tại Việt Nam nhằm chạy đua và “cạnh tranh” với chính sách Đại Đông Á của người Nhật tự chấm dứt vào ngày 9-3-1945, khi quan toàn quyền Đông Dương Đờ cu (Decoux) dâng xứ Annam cho người Nhật. 

Bộ sậu Toàn quyền Decoux dâng xứ Annam cho người Nhật (ông Tây Đờ cu đứng giữa, hai ông Nhật đứng hai bên)

Trước khi sang phần sau, là phần sẽ “kể lể” “công ơn” của người Pháp thực dân trong việc “cho” người Việt cái chữ,  xin dẫn về đây nhận định của tác giả Bùi Kha (Hoa kỳ), trong bài viết Alexandre Rhodes – Đối luận với tác giả Hoàng Hưng, về  “công tích” của cụ cố Rốt, người từng được vinh danh là “khai sinh” ra chữ “quốc ngữ”:
“Công của ông cố đạo nầy thì đã quá rõ: Ông A. de Rhodes dứt khoát không phải là người đầu tiên sáng chế ra chữ Việt La-tinh hoá, nhưng ông đã cùng với các ông cố đạo Bồ Ðào Nha khác, cùng như cùng với những trí thức Việt Nam khác (thầy đồ, sư sãi, quan lại,...), góp phần chỉnh trang, hệ thống hoá và đặt nền móng cho tiếng Việt của chúng ta ngày nay. Và cái công tập thể đó thì chỉ giới hạn trong lãnh vực ngôn ngữ mà thôi, rõ ràng chưa xứng đáng để vì đó mà ta nâng chỉ mỗi mình ông cố đạo này lên thành công thần văn hoá, lại càng không xứng đáng để xây bia, đúc tượng, đặt tên đường như những vị danh nhân văn hoá khác của Việt Nam.

Huống gì khi mở rộng ra trên bình diện lịch sử dân tộc, tội của ông thì cũng đã quá rõ, và quá nặng: Ông Alexandre de Rhodes là ông cố đạo Pháp đầu tiên đã vận động chính quyền Pháp xâm chiếm nước ta với ý đồ làm cho hai chính sách truyền đạo của nhà thờ và đô hộ của nhà nước quấn quyện vào nhau trong một thế hỗ tương quyền lợi, dù ý đồ đó không thành tựu ngày ông nhắm mắt. Tuy nhiên chính vì “tiền lệ” đó mà sau này, những giáo sĩ Pháp như Pallu, De la Motte, Huc, Pellerin, Puginier,... đã triển khai để thành công trong việc thuyết phục, kế hoạch, và tiến hành cuộc xâm lăng nước ta và áp đặt nền đô hộ trên dân ta”.


------


Thứ Tư, 6 tháng 1, 2016

Cái ơn con... tự (3 – tiếp theo)






(Vài chuyện về chữ quốc ngữ)
------------

Tiếp tục kể lể về “công tích” cụ cố Rốt

Trong nhiều năm qua, đã có rất nhiều các học giả và nhà nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu về vấn đề “ai là ông tổ chữ quốc ngữ?” trong đó dĩ nhiên có phần "công tích" của cụ cố Rốt, và hầu hết đều có chung câu trả lời thỏa đáng. Điểm qua, đó là các chuyên luận hoặc bài viết của các ông: Linh mục Đỗ Công Chính, Võ Long Tê, GS Trần Chung Ngọc, học giả An Chi, GS Nguyễn Mạnh Quang, GS Phạm Văn Hường, các tác giả Bùi Kha, Charlie Nguyễn, BS. Nguyễn Văn Thịnh, Huỳnh Ái Tông ... mà bạn đọc có thể dễ dàng tìm thấy trên mạng, nhất là qua trang Sachhiem.net.
Linh mục người Pháp, GS. Roland Jacques tặng sách
Nhưng cho đến gần đây, thì cái dấu hỏi to tướng mà nhà báo Đào Trinh Nhất đặt ra năm xưa lại được một ông người Pháp tiếp tục trả lời một cách cặn kẽ và với những lý lẽ rất khó phản bác. Đó là linh mục Roland Jacques, một chuyên gia nghiên cứu về lịch sử truyền giáo Phương Đông và Giáo luật Công giáo, Tiến sĩ Luật học tại Đại học Paris XI và Học viện Công giáo Paris, hiện là Khoa trưởng Phân khoa Giáo luật tại Đại học Saint-Paul, Ottawa, Canada. Trong cuốn Les missionnaires portugais et les débuts de l’ Église catholique au Viet-nam (Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam) xuất bản năm 2004, ông viết:
“Đến khi chữ quốc ngữ đã bắt đầu được sử dụng chính thức tại Việt Nam vào đầu thế kỷ XX, người ta cố truy tìm lịch sử của nó, bấy giờ tên tuổi Alexandre de Rhodes đã sớm được công nhận như là người khai sinh ra việc chuyển vần latinh vào tiếng Việt Nam. Rồi từ đó ông được nâng lên tận mây xanh như một ngôi sao đứng một mình, soi sáng cho đêm tối của quá khứ xa xưa, của những thời kỳ truyền giáo tiên khởi, trước khi các vị truyền giáo Paris đến, trong đó Taberd và các đấng kế vị là những đại diện có tên tuổi. Chính quyền thực dân và Giáo hội đều đã ca ngợi thiên tài truyền giáo và ngữ học có một không hai của vị tu sĩ dòng Tên, tán dương những lợi ích đem lại cho Việt Nam trong thời đại mới.
Và,
“Dựa vào những tác phẩm được xuất bản nầy (Từ điển Việt-Bồ-La; Phép giảng 8 ngày...) mà nhân vật Alexandre de Rhodes bắt đầu trở thành truyền thuyết, hầu như thần thoại đối với lịch sử của các công cuộc truyền giáo tại Việt Nam cũng như đối với lịch sử tiếng Việt.”
“Chúng tôi thấy đây là một sự sai lầm về lịch sử. Hẳn nhiên, Rhodes là một nhà truyền giáo lớn, nhưng không phải là một siêu nhân: khẩn thiết phải trả lại thực trạng con người cho con người ấy, và đặt lại công trạng nầy trong bối cảnh lịch sử thật của nó. Ngoài những vấn đề liên quan đến nỗ lực xây dựng cho ngữ học Việt Nam, mà chúng ta sẽ bàn thảo, chúng ta nêu lên đây một vấn đề khác nữa”.
Vấn đề khác nữa mà Linh mục Roland Jacques muốn nêu lên đây là vấn đề “đạo văn”:
 “...Chúng ta đưa ra đây hai thí dụ: Ta thấy bản tường thuật về việc tử đạo của thầy giảng Anrê, mà bản gốc bằng tiếng Bồ Đào Nha chắc chắn do chính linh mục Rhodes viết ra, nhưng đôi khi được lấy lại từng chữ một dưới tên các tác giả Matias da Maia,  Antônio Francisco Cardim hoặc Manuel Ferreira. Ngược lại, Rhodes đã xuất bản dưới tên mình một bản tường thuật liên quan đến các vị tử đạo Nhật Bản, mà tổng thể lại lấy lại những ký sự của các tu sĩ dòng Tên. Như thế, khi người ta quyết định cho xuất bản hoặc tái bản một bản văn được thuận nhận để phổ biến, thì người được đề cử làm công việc nầy lại ghi tên mình vào đó, và mang trách nhiệm cá nhân về công tác của mình. Trong trường hợp của linh mục Rhodes và các vị tử đạo của Nhật Bản, có lẽ đã dựa vào danh tiếng đang lên của con người Avignon nầy để mang cho cuốn sách được phổ biến rộng rãi hơn”.

Sách Les missionnaires portugais et les débuts de l’ Église catholique au Viet-nam (Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam)

Đi xa hơn, với những lập luận sắc bén và xâu chuỗi một cách có hệ thống những dấu vết ảnh hưởng từ các ngữ âm Bồ Đào Nha lên chữ “quốc ngữ”, ông linh mục người Pháp này còn đòi trả lại những “công khó” cho các cố đạo khác người Bồ Đào Nha. Roland Jacques khẳng định: “Trước hết cần thừa nhận tính có trước của công trình ngôn ngữ học thực hiện bởi người Bồ Đào Nha Francisco de Pina. Sự ra đời của chữ Quốc ngữ trước hết là thành quả của một cuộc gặp gỡ lịch sử giữa ngôn ngữ Việt Nam và ngôn ngữ Bồ Đào Nha”.
Francisco de Pina là ai? Đó chính là vị linh mục Bồ Đào Nha đến Đàng Trong từ năm 1617 và là người đầu tiên giảng đạo bằng tiếng Việt và đã soạn ra các chuyên luận đầu tiên về "Từ vựng và các thanh"“Ngữ pháp’’ tiếng An Nam. Mãi 7 năm sau, cố Rốt mới đặt chân lên Đàng Trong và mau mắn trở thành một trong hai học trò vỡ lòng của Pina về tiếng Việt. Tháng 12 - 1625, Francisco de Pina đột ngột qua đời vì đuối nước tại Hội An và để lại các chuyên luận về tiếng An Nam của ông cho học trò.
Trong một lá thư viết đầu năm 1623, (xem ở đây ), giáo sĩ Pina nói về việc học ngôn ngữ bản xứ như sau: “Về việc học ngôn ngữ, thì Dinh Chiêm là nơi tốt nhất, vì dinh Trấn thủ đặt nơi đây; người ta nói năng rất chuẩn và có nhiều thanh niên học trò qui tụ về, nên những ai bắt đầu học ngôn ngữ thì tìm được sự giúp đỡ nơi các học trò ấy... Ngôn ngữ này có cung điệu giống như cung nhạc, cần phải biết xướng cho đúng thanh điệu trước đã, sau mới học các âm qua bảng chữ cái...".
“Về phần tôi, tôi đã soạn một tập nhỏ về chữ viết và các  thanh (cung điệu) của ngôn ngữ này; tôi hiện đang bắt tay vào ngữ pháp. Tuy nhiên, mặc dù tôi đã thu thập được các câu chuyện thuộc nhiều thể loại khác nhau để ghi trích dẫn các tác giả, hầu xác định ý nghĩa của các từ và mẹo luật ngữ pháp, thì cho đến nay tôi vẫn phải nhờ một người đọc (chữ Nôm) để ghi lại bằng mẫu tự Bồ Đào Nha, hầu cho người của ta sau này có thể đọc và học thuộc lòng” .
Vì hiển nhiên phải "tạo ra" chữ viết trước cái đã rồi sau đó mới có thể bắt tay vào nghiên cứu về “mẹo luật ngữ pháp” của nó, lá thư này phần nào hé lộ thời điểm ra đời của chữ “quốc ngữ” và việc "sinh nở" này rõ ràng không liên quan tẹo nào đến cụ cố Rốt, khi đó còn chưa có mặt ở Đàng Trong. 

Một trang trong cuốn Các cuộc hành trình và truyền giáo của cố Rốt (được dịch ở ngay dưới)
Chính cố Rốt thừa nhận về khả năng ngôn ngữ của Francisco de Pina trong Các cuộc hành trình và truyền giáo (Divers voyages et missions):
“Chúng tôi khởi hành từ Macao vào tháng 10 năm 1624 và sau 19 ngày thì tới Đàng Trong, tất cả đều hồ hởi bởi hoạt động tốt. Ở đó chúng tôi gặp cha Pina, ngài rất thông thạo tiếng xứ này, một thứ tiếng khác hẳn tiếng Tàu. Tiếng mới này còn thông dụng ở Đàng Ngoài, ở Cao Bằng, ở Đàng Trong và người ta còn nghe và hiểu ở ba xứ lân bang khác. Đối với tôi, thú thật vừa tới Đàng Trong và nghe dân xứ này nói, nhất là phụ nữ, tôi tưởng như nghe chim hót và tôi không bao giờ mong có thể học được…Vì thế mà tôi thấy cha Fernandez và cha Buzomi phải dùng thông ngôn để giảng, chỉ có cha Francois de Pina không cần thông ngôn vì nói rất thạo. Tôi nhận thấy bài ngài giảng có ích nhiều hơn bài các vị khác. Điều này khiến tôi tận tuỵ học hỏi, tuy vất vả, thế nhưng khó ít mà lợi nhiều. Tôi liền chuyên chú vào việc. Mỗi ngày tôi học một bài và siêng năng như khi xưa vùi đầu vào khoa thần học ở Rôma”.
Và:
“Ngay từ đầu, tôi đã học với cha Francesco de Pina, người Bồ, thuộc Dòng Tên nhỏ bé chúng tôi. Là thầy dạy tiếng , người thứ nhất trong chúng tôi am tường tiếng Việt, và cũng là người thứ nhất bắt đầu giảng thuyết bằng ngôn ngữ đó mà không dùng thông ngôn’’.
Ngoài ra, muốn cân đo "công tích" cụ Rốt tới đâu thì cũng phải nhớ đến điều "bất khả kháng" sau đây, là các cụ cố muốn “truyền” Phúc Âm được cho người Việt thì buộc họ phải: a) hoặc là học từ người Việt để mà biết tiếng Việt; b) hoặc là phải dạy cho người Việt đọc được tiếng Latin. Chính vì thế các cụ cố mới buộc phải dùng các ký tự Latin để phiên âm tiếng Việt, chứ chả có cụ nào, nhất là cụ Rốt lại mơ tưởng đến chuyện nhờ vào những mẫu tự Latin mà giúp cho người Việt tiếp xúc với nền “văn minh phương Tây” và “giúp cho Việt Nam đi trước đến ba thế kỷ” như các thầy tu Dòng Tên chém gió mẹ hát con khen sau này.
Thậm chí, sau này, giám mục Puginier, người phá chùa Báo Thiên, còn tỏ ra rất “thẳng thắn” khi nói về “công dụng” của cái chữ “quốc ngữ”: “…tôi xem việc tiêu diệt chữ Nho và thay thế dần dần ban đầu bằng tiếng An Nam (tức chữ Quốc ngữ), rồi bằng tiếng Pháp như là phương tiện rất chính trị, rất tiện lợi và rất hiệu nghiệm để lập nên tại Bắc Kỳ một nước Pháp nhỏ ở Viễn Ðông”.
Và cũng như nhà báo Đào Trinh Nhất, tác giả Roland Jacques cho rằng không thể không kể đến công lao của chính người Việt, những người vừa là trò nhưng cũng lại có vai trò là thầy của các vị cố đạo người Âu trong quá trình “phát minh” ra chữ “quốc ngữ”, ông đề nghị:
“Cần thiết phải đặt đúng đắn vị trí của cá nhân Alexandre de Rhodes trong một công trình tập thể mà ông chỉ là một trong số nghệ nhân chủ yếu, mà trong đó những người Bồ Đào Nha và những người cạnh tranh ngang hàng Việt Nam của họ đã giữ vai trò hàng đầu”.
Như vậy, khoan chưa kể đến công lao của những người Việt, nếu có một ông cố đạo “khai sinh” ra chữ “quốc ngữ”, thì đó phải là Francisco de Pina, người Bồ Đào Nha chứ không phải và không thể là Alexandre de Rhodes. Vì cái chữ này hiển nhiên đã "ra đời" ít nhất 4 năm trước khi cụ cố Rốt đặt chân lên xứ Đàng Trong và lọ mọ học tiếng Việt với hai ông thầy là Francisco de Pina và một cậu bé 13 tuổi người Việt. Chính linh mục Christophe Borri, người đến Đàng Trong sau Pina 1 năm và trước Rốt 5 năm, đã viết trong cuốn Relation de la Cochinchine (in năm 1631) rằng năm 1620, các nhà truyền giáo đã “soạn được sách Giáo lý bằng tiếng nói Đàng Trong rất bổ ích; vì không những trẻ con học thuộc lòng sách ấy, mà cả người lớn cũng học sách ấy”
Vậy thì đã rõ những ai mới thật sự là người đáng được dựng tượng hơn là cụ Rốt. Và nếu có những ai đó, như nhóm người theo đạo Thiên Chúa năm 1927, (đề xuất, ủng hộ nhưng không thực hiện) hay các nhà (lệch) sử ngày nay, muốn dựng tượng cố Rốt để “tri cái ân” gì đó thì là chuyện cá nhân hoặc phe nhóm của các vị và nhớ đừng moi đến tiền nhà nước là được. Kệ thây các vị, nhưng xin bỏ ngay cái thói đánh bùn sang ao và mượn uy danh ông nọ bà kia để đòi hỏi "người dân Việt Nam (ai ai cũng phải) nhớ ơn cụ cố Rốt".

-----------