Thứ Năm, 19 tháng 7, 2018

Vài lời với những người thực hiện cuốn sách vừa bị ngưng phát hành




--------
Đó là cuốn sách "Gạc Ma - Vòng tròn bất tử", do NXB Văn học và First News Trí Việt ấn hành, thiếu tướng Lê Mã Lương chủ biên. Sách được quảng bá rằng các tác giả đã mất đến 4 năm để hoàn thành, trải qua 14 nhà Xuất bản, 48 lần biên tập và đã được NXB Fortis, Florida (Mỹ) ký mua bản quyền tiếng Anh để xuất bản ở Mỹ và dự kiến phát hành toàn cầu trong năm 2018.
Ấy thế mà chỉ vài ngày sau khi ra mắt, cuốn sách đã bị dư luận phản ứng gay gắt và Nhà Xuất bản Văn Học đã buộc phải ra thông báo tạm ngưng phát hành để đính chính và sửa chữa.
Trước hết, hãy nói về tên cuốn sách.
Trên FB của mình, ông Nguyễn Văn Phước, Giám đốc Công ty First News Trí Việt tự hào cho biết: “Sau vài tháng, cuốn sách đã hình thành để đi xin giấy phép với cái tên do tôi đặt: ‘Gạc Ma – Vòng Tròn Bất Tử”.
Quả đúng là tên sách, (và cả một bức tranh cùng tên nữa) là do ông Phước đặt ra. Nhưng cái tứ “Vòng Tròn Bất tử” thì hiển nhiên ông Phước đã phải “cầm nhầm” từ ai đó. Lý do đơn giản nhất, là bởi cụm từ này đã phổ biến trên diễn đàn TTVNOL (Trái tim Việt Nam Online) từ tháng 3 năm 2009, tức là 5 năm trước thời điểm ông Phước mang sách đi xin giấy phép xuất bản (2014).
Năm 2009 cũng là năm xuất hiện trên mạng đoạn Video clip dài chừng 3 phút có logo tiếng Trung, có lẽ do lính Trung Quốc thực hiện, thể hiện “chiến công” chiếm đóng đảo Gạc Ma, dĩ nhiên dưới quan điểm của họ. Đoạn Clip này được các bạn TTVNOL biên tập, biên dịch ra tiếng Việt và vài thứ tiếng nước ngoài rồi đặt tên lại là “Vòng Tròn Bất Tử”.
Thực tế thì có thể còn có nhiều bài thơ và bài hát cùng mang tên “Vòng tròn bất tử” ra đời từ trước năm 2009 và cần được kiểm chứng thêm. Trong đó, đặc biệt nên lưu ý đến bài thơ của Đại tá Nguyễn Văn Dân, khi ấy là Trung tá, Phó Tham mưu trưởng Vùng 4 Hải quân, người trực tiếp chỉ huy Cụm 2 Trường Sa và đã có mặt ở đảo Gạc Ma vào trưa 14-3-1988. Và theo một bài viết gần đây trên báo Người Lao động thì “Vòng tròn bất tử” chính là tên bài thơ mà ông Dân rút ruột viết ra trong những ngày lịch sử ấy.
Tên sách là thế, vậy nội dung  ban đầu thế nào? Tại sao cuốn sách phải trải qua nhiều nhà xuất bản và nhiều lần biên tập đến thế? Có phải do vấn đề quá “nhạy cảm” như ông Phước than vãn hay vấn đề nằm ở chính nội dung cuốn sách? 
Thực chất, câu hỏi này đã được ông Giám đốc Nhà Xuất bản Trẻ trả lời, ngay trên báo Tuổi Trẻ phát hành ngày 13-3-2016:
“Tên sách quá hay nhưng bản thảo yếu quá, chỉ lấy lại từ các báo, và không rõ tác quyền.
NXB nói các biên tập viên "cứu" bản thảo này nhưng không được. Nói phía First News làm lại thì ông Phước rút lại bản thảo để đưa qua NXB khác”. 
Ấy vậy mà sau tới 14 lượt chuyển NXB và 48 lần biên tập thì cuốn sách vẫn phải tạm ngừng phát hành để tiếp tục “đính chính” và chỉnh sửa các nội dung thiếu chính xác. Bây giờ, mọi “cánh cửa” đã mở rồi nhé và ông Phước xin đừng đổ lỗi cho bất kì ai nữa.
Trong sách có những sai sót ngớ ngẩn (nhưng lại nghiêm trọng) như người đang sống bỗng nhiên bị các tác giả “khai tử”. Nhưng điểm nóng gây nên phản ứng quyết liệt nhất từ phía các tướng lĩnh, sĩ quan quân đội và các cựu chiến binh lại là câu chuyện liên quan đến quan điểm của ông Lê Mã Lương, người chủ biên cuốn sách, về việc vu vơ đâu đó có một cái lệnh “không cho nổ súng” từ một “lãnh đạo cấp cao”.
Nguyên văn, ông Lương nói: “Có đồng chí lãnh đạo cấp cao ra lệnh bộ đội ta không được nổ súng nếu như (Trung Quốc) đánh chiếm đảo Gạc Ma hay bất kỳ đảo nào ở Trường Sa”.
Câu chuyện giờ đây đã không còn nằm trong phạm vi “sai sót” của cuốn sách để NXB và người Chủ biên chỉ cần làm thêm tờ đính chính rồi phủi tay là xong.
Vấn đề ở đây trở thành “sai lệch” rồi, chứ không chỉ còn đơn giản là “sai sót” nữa.
Sai lệch này dẫn đến nhận thức không đúng về lịch sử quân sự Việt Nam, lịch sử đấu tranh gìn giữ biển đảo của Quân đội nói chung và Hải quân nói riêng cho đến trách nhiệm cá nhân của các sĩ quan cao cấp từng là chỉ huy hoặc đồng đội của ông Lê Mã Lương, đồng thời cũng xúc phạm vong linh các liệt sĩ, xúc phạm các thương binh, cựu chiến binh đang được các ông làm sách để “tri ân”, đấy là chưa xét đến vấn đề bôi đen chính sách hậu phương quân đội của Nhà nước.
Đã có rất nhiều nhân chứng, là những sĩ quan, chiến sĩ từng trực tiếp tham gia sự kiện Gạc Ma – Cô lin – Len đao ngày 14-3-1988 phản ứng gay gắt với phát biểu nói trên của ông Lương. Diễn biến thực tế cuộc chiến diễn ra như thế nào, bộ đội ta có “được lệnh không nổ súng” và có nổ súng không, chỉ cần tham khảo các thông tin từ chính họ (mới đây nhất là bài viết từ cựu binh Dương Khánh Chi).
Hiện tại, tại vùng “tranh chấp” này, Việt Nam kiểm soát 21 thực thể địa lý với 33 điểm đóng quân, bao quát gần 100.000 km vuông biển. Philippines kiểm soát 7 thực thể địa lý, Malaysia kiểm soát 5 thực thể địa lý. Trung Quốc cưỡng chiếm 7 thực thể địa lý. Đó là thành quả trực tiếp từ chiến dịch Chủ quyền 1988 (viết tắt CQ88) của bộ đội Hải quân Việt Nam.
Cho nên, nếu ông Lê Mã Lương còn đôi chút tỉnh táo thì chỉ cần xem các số liệu trên là có thể “đoán” được ta có nổ súng hay không. Còn nếu bảo “không được nổ súng” (như ông Lương phán bậy) mà vẫn đạt được thành quả to lớn như trên thì hệ quả tất yếu là chúng ta… buộc phải “khen” Trung Quốc (và nhân thể, cả Philippines, Malaysia và Thailand) không có tham vọng ở Biển Đông.
Còn tại sao phải “không được nổ súng trước” thì xin thưa với ông Lương, ông Phước và các nhà “rân trủ” rằng, Luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên Hiệp Quốc yêu cầu mọi “tranh chấp lãnh thổ” phải được giải quyết bằng các giải pháp hòa bình và không thừa  nhận việc “thụ đắc lãnh thổ” có được từ bạo lực.
Mỹ ngày xưa muốn ném bom miền Bắc phải vu cáo Hải quân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa “vô cớ tấn công” tàu khu trục của họ (Sự kiện Vịnh Bắc bộ, ngày 5-8-1964). Còn ngay trên cái Video clip chiếm đảo Gạc Ma đã nói ở trên, người Trung Quốc vẫn “khẳng định” phía “quốc gia nọ” (chỉ Việt Nam) đã nổ súng trước.
Ngoại giao là “diễn”, và nếu ông Ngoại giao nào đó có lỡ đập bàn đập ghế (như ông Lương hóng được), thì đó cũng chỉ là việc khi đó ông ấy  “nhập vai hơi sâu”.
Ở trên nói “nếu ông Lương còn đôi chút tỉnh táo” là vì tôi vẫn mong manh chút hy vọng, bởi Lê Mã Lương của một thời chống Mỹ vẫn là tấm gương sáng của bao thế hệ thanh niên “gác bút nghiên lên đường giữ nước”.

Nhưng có lẽ chính bản thân ông Lương cũng không muốn hy vọng của tôi trở thành sự thực.      
 
Ông Lê Mã Lương và vị “anh hùng vu vạ” lừng danh giới “rân trủ”: Trương Văn Dưỡng



Thứ Tư, 11 tháng 7, 2018

Chuyện “Nhượng địa” ở Việt Nam




-------------
Hòa ước Nhâm Tuất 1862 và 3 tỉnh miền Đông
“Nhượng địa” đầu tiên ở Việt Nam ra đời năm 1862 bởi Hòa ước Nhâm Tuất dưới thời vua Tự Đức.
Hiệp ước được ký ngày 5 tháng 6 năm 1862 tại Sài Gòn giữa các đại diên của ba quốc gia gồm Pháp, Tây Ban Nha và Việt Nam. Phía Việt Nam có chánh sứ Phan Thanh Giản và phó sứ Lâm Duy Hiệp, đại diện nước Pháp là thiếu tướng Bonard và đại diện Tây Ban Nha là đại tá Don Carlos Palanca Guttiere.
Khi cử Phan Thanh Giản, một vị lão thần đã trải qua ba đời vua (hai đời vua trước là Minh Mạng và Thiệu Trị) làm chánh sứ đi nghị hòa, vua Tự Đức có cho phép  họ Phan được tùy theo tình thế mà định đoạt, riêng việc lãnh thổ đang bị Pháp chiếm, phải ráng sức chuộc lại ba tỉnh với giá 1.300 vạn lạng, còn nếu phía Pháp đòi cắt đất thì kiên quyết không nghe.
Gánh trên vai trọng trách do vua giao phó, chả hiểu Phan Thanh Giản “thương nghị” thế nào, không những đã không chuộc lại được đất mà lại còn phải bồi thường chiến phí.
Hai điều khoản đáng chú ý trong Hiệp ước này là:
Khoản 3: Chủ quyền trọn ba tỉnh là Biên Hòa, tỉnh Gia Định và tỉnh Định Tường, cũng như đảo Côn Lôn, do hiệp ước này, được hoàn toàn nhượng cho hoàng đế nước Pháp. Ngoài ra, các thương gia Pháp được tự do buôn bán và đi lại bằng bất cứ tàu bè nào trên sông lớn của xứ Cam Bốt và trên tất cả các chi lưu của con sông này; các tàu binh Pháp được phép đi xem xét trên con sông này hay trên các chi lưu của nó cũng được tự do như vậy.
Khoản 8: Hoàng đế nước Đại Nam sẽ phải bồi thường một số tiền là bốn triệu piastre, trả trong 10 năm. Vì nước Đại Nam không có tiền piastre sẽ được tính bằng 72% lạng bạc.
Như vậy, 3 tỉnh Nam Kỳ gồm Biên Hòa, Gia Định và Định Tường và đảo Côn Lôn chính thức trở thành “nhượng địa” của Pháp.
Tây Ban Nha chỉ lấy tiền, không lấy đất.
Hòa ước Giáp Tuất 1874 và ba tỉnh miền Tây
Sau khi đã có “nhượng địa” là 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ theo Hòa ước Nhâm Tuất 1862, năm 1867 Pháp lại mưu toan chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây gồm Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Với sự trợ giúp của Phan Thanh Giản, khi ấy là quan Kinh lược sứ, chỉ trong 5 ngày (từ 20-24 tháng 6 năm 1867), Pháp chiếm gọn ba tỉnh miền Tây không tốn một viên đạn.
Sự chiếm đóng các tỉnh miền Tây rõ ràng vi phạm vào bản Hiệp ước Nhâm Tuất 1862 mà các bên đã ký. Vì vậy năm 1874, Pháp lại bắt Tự Đức ký tiếp Hoà ước Giáp Tuất 1874, thay thế Hiệp ước Nhâm Tuất, mở rộng phạm vi “nhượng địa” cho nước Pháp ra tới toàn cõi Nam kỳ, tức là phần đất từ phía Nam ra tới giáp tỉnh Bình Thuận.
Điều 5: Đức Hoàng thượng Vua nước An Nam công nhận chủ quyền toàn vẹn của nước Pháp trên các vùng lãnh thổ do nước Pháp hiện đang chiếm giữ và bao gồm trong các ranh giới như sau:
Về phía Đông; vùng biển Trung Quốc và Vương Quốc An Nam (tỉnh Bình Thuận); Về phía Tây; vịnh Xiêm La; Về phía Nam; vùng biển Trung Quốc; Về phía Bắc; Vương quốc Cam Bốt và Vương quốc An Nam (tỉnh Bình Thuận)… 
Đổi lại, nước Pháp cấp cho Annam 5 chiếc tàu chiến cộng 100 khẩu pháo, đồng thời miễn cho Annam không phải trả phần tiền chiến phí cũ còn thiếu. Riêng số tiền chiến phí còn nợ Tây Ban Nha vẫn phải trả dần hàng năm thông qua trung gian là nước Pháp. Do Tây Ban Nha không trực tiếp tham gia ký kết hiệp ước này nên chính phủ Pháp có trách nhiệm tìm kiếm sự đồng thuận của chính phủ Tây Ban Nha.
Như vậy cả hai lần “nhượng địa” này đều có “dấu vết” từ nhân vật Phan Thanh Giản. Đương thời, Tự Đức đã từng đánh giá họ Phan “chẳng những là tội nhân của bản triều mà còn là tội nhân của muôn đời” và kết án “trảm hậu” (chém sau khi chết để làm gương), đồng thời đục tên Phan trên bia Tiến sĩ. Cũng do những “công lao” này của họ Phan mà người Pháp đã tổ chức tang lễ cho ông rất trọng thể theo đúng nghi lễ quân binh còn với người dân Nam Kỳ thì câu “Phan Lâm mãi quốc, triều đình thí dân” đến nay vẫn còn được truyền tụng. Sử giấy có thể bị bôi xóa hay tô màu vì những mục đích riêng tư dòng họ, bia đá cũng có thể bị mòn, bị đục hay được khắc lại, riêng cái mà dân gian gọi là “ngàn năm bia miệng” thì “vẫn còn trơ trơ”. (*)
“Suýt” trở thành “nhượng địa” của Đức.
Vào khoảng thời gian nằm giữa hai Hiệp ước Nhâm Tuất và Giáp Tuất nói trên, Đại vương quốc Annam đã thực sự trở thành gói bưu kiện mà Hoàng đế Napoleon III của nước Pháp mưu toan đem “gán nợ” cho nước Phổ.
Nguyên là năm 1871, Pháp – Phổ đánh nhau. Pháp thua to, Napoléon III đầu hàng và xin mang xứ Annam ra cầm cố nhưng nước Phổ chê, không chịu. Sau, Pháp phải cắt cho Phổ hai tỉnh màu mỡ bậc nhất là Alsace và Lorraine cộng thêm một khoản chiến phí khổng lồ là 5 tỷ piastre để bồi thường.
Nói lan man một chút, là nếu thủ tướng nước Phổ bấy giờ là Otto von Bismarck mà gật đầu một cái thì đất nước chúng ta đã có thêm cái “hân hạnh” được làm “nhượng địa” của người Đức.
Hòa ước Quý Mùi 1883 và tỉnh Bình Thuận
Năm 1883, sau khi vua Tự Đức băng hà, tình hình triều chính rối loạn, (dân gian gọi là thời kỳ 4 tháng 3 vua), triều đình Huế lại phải ký tiếp Hòa ước Quý Mùi (còn có tên gọi là Hòa ước Harmand).
Trước khi ký Hiệp ước gồm 27 khoản này đại diện nước Pháp là Jules Harmand đã ra tối hậu thư đòi triều đình Huế phải phản hồi trong vòng 24 giờ và đe dọa: Đế quốc An Nam, hoàng triều, cùng các vương công, đại thần sẽ tự tuyên án tử hình cho chính mình. Cái tên Việt Nam sẽ bị xóa khỏi lịch sử...” nếu vua quan nhà Nguyễn không chấp nhận toàn bộ những điều kiện nêu trong Hiệp định.
Hiệp định này xác lập quyền đô hộ lâu dài của Pháp trên toàn bộ Việt Nam (bao gồm các việc ngoại giao, quốc phòng, hải quan,… từ nay sẽ do Pháp đảm nhiệm) và lãnh thổ “nhượng địa” cho Pháp lần này được mở rộng ra đến hết tỉnh Bình Thuận. Ngoài tỉnh Bình Thuận, vấn đề về tương lai các “nhượng địa” khác xung quanh các cảng cũng được đặt ra.
Đổi lại, Pháp xóa “nợ” cũ cho Annam.
Điều 2: Tỉnh Bình Thuận sẽ được sát nhập vào những thuộc địa của Pháp ở Hạ Đàng Trong (Basse-Cochinchine, tức Nam kỳ).
Điều 7: Chính phủ An Nam sẽ tuyên bố mở cửa cho việc buôn bán của châu Âu, ngoài cảng Quy Nhơn và các cảng Đà Nẵng và Xuân Đài. Các bên sẽ bàn bạc xem có lợi cho cả hai nước hay không nếu mở cửa thêm những khu đất khác và cũng sẽ quy định giới hạn những khu đất nhượng cho Pháp xung quanh các cảng mở cửa. Pháp sẽ đặt các nhân viên của mình tại những nơi đó, dưới quyền của công sứ Pháp tại Huế...
Hòa ước Giáp Thân 1884 và ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng 
Chỉ chưa đầy một năm sau ngày ký Hòa ước Quý Mùi, nhà Nguyễn lại ký Hòa ước Giáp Thân 1884 (tên gọi khác là Hòa ước Patenôtre) thay thế Hòa ước đã ký năm 1883. Hiệp ước Quý Mùi gồm có 19 điều khoản.
Điều 18 của Hiệp ước này đặt nền móng cho việc các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng trở thành “nhượng địa” của Pháp:
Điều 18: Những cuộc hội nghị sau này sẽ ấn định giới hạn của các cảng mở cửa và những khu đất nhượng cho nước Pháp trong những cảng này; việc xây dựng các hải đăng trên bờ biển Trung Kỳ và Bắc Kỳ; chế độ và việc khai thác mỏ; chế độ tiền tệ; phần tỷ lệ dành cho chánh phủ An Nam trên tổng số thu nhập về quan thuế, về các ty; về các phí điện tín và về những khoản thu nhập khác không nói đến trong điều II của hiệp ước này.
Và đến năm 1888, vua Đồng Khánh ra đạo dụ số 567, cụ thể hóa điều 18 của Hiệp định Giáp Thân, chính thức chuyển giao toàn quyền sở hữu cho nước Pháp đối với ba thành phố nói trên:
Căn cứ điều 18 của Hiệp ước ngày 6-6-1884, quyết định rằng những giới hạn của các cảng mở và các vùng nhượng địa Pháp tại Trung và Bắc Kỳ sẽ được xác lập trong các cuộc hội đàm về sau;
Theo đề xuất của Viện Cơ mật và sau khi nhất trí với Quý Toàn quyền Đông Dương.
Trẫm ra Dụ:
 Điều 1. Các vùng đất của các Thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Tourane [Đà Nẵng] được lập thành nhượng địa Pháp và được chuyển giao toàn quyền sở hữu cho Chính quyền Pháp bởi Chính phủ An-nam, bên từ bỏ mọi quyền hạn của mình đối với các vùng đất nói trên.
Đạo dụ này cũng có một cái tên Pháp, đó là “Đạo dụ Richaud”, mang tên của viên Toàn quyền Đông Dương bấy giờ.
Vua Đồng Khánh cũng là người cho phục hồi lại cái tên Phan Thanh Giản trên bia đá Văn Miếu. Đồng khí tương cầu chăng?
Hiệp định Geneve 1954 và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam
Một ngày sau khi chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc bằng thắng lợi “chấn động địa cầu” của quân đội nhân dân Việt Nam dân chủ cộng hòa trước các lực lượng vũ trang của Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương cộng với viện trợ Mỹ, vấn đề đình chiến tại Đông Dương chính thức được đưa lên bàn đàm phán tại Hội nghị Geneva, Thụy Sĩ. Hiệp định Genève 1954 và Bản Tuyên bố cuối cùng của nó ký ngày 21 tháng 7 năm 1954  dẫn đến việc chấm dứt sự hiện diện của quân đội Pháp trên bán đảo Đông Dương, xóa sổ chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương, công nhận nền độc lập của ba quốc gia Việt, Lào, Campuchia.
Hội nghị ghi nhận tuyên bố của chính phủ Pháp về giải pháp khôi phục và củng cố hoà bình tại Việt Nam, Lào và Campuchia. Chính phủ Pháp sẽ tôn trọng sự tự do, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước.
Trong quan hệ với Việt Nam, Lào, Campuchia, mỗi thành viên tham dự Hội nghị Genève sẽ tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước; không can thiệp vào công việc nội bộ của 3 nước.”
Vấn đề “nhượng địa” tại Việt Nam cũng theo đó mà chấm dứt.
Tuy vậy, đến năm 1957, Tổng thống ngụy Việt Nam Cộng hòa là Ngô Đình Diệm lại định biến cả Miền Nam thành “nhượng địa” của Mỹ bằng một tuyên bố tại khách sạn Waldorf-Astoria ngày 13/5/1957:
Biên giới Hoa Kỳ không ngừng ở Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, mà kéo dài, ở Đông Nam Á, tới sông Bến Hải, ở vĩ tuyến 17 của Việt Nam…”
Nhân quả nhãn tiền, việc mua bán lãnh thổ của Diệm với Hoa Kỳ chưa kịp ngã ngũ, tháng 11 năm 1963, mấy huynh đệ nhà Diệm bị đàn em cho về chầu Chúa.
Có người thạo chuyện Việt Nam cọng hành, cười khẩy bảo, nếu thật muốn bán đất nước cho Hoa Kỳ thì nhà Diệm chưa chắc đã bị đàn em làm thịt. Ai bảo “bắt cá hai tay” ngoài miệng bảo bán đất cho Hoa Kỳ lấy tiền nhưng trong bụng lại khăng khăng đem dâng tất cho Chúa? Chết là phải.
------------------

(*) Trong khi đó, hai năm sau khi ký Hòa ước Giáp Tuất, vua Tự Đức còn biết tự phê phán mình như sau:
“ Trẫm tuổi thơ được nối ngôi báu, nhờ công tổ tiên bấy giờ quốc gia toàn thịnh. Việc nước việc đời, chưa từng kinh nghiệm; không để ý đến lời răn “ lúc yên ổn phải nghĩ đến lúc nguy nan ,” mãi đam mê theo thói vui chơi; cho đến nỗi trên thì trời trách phạt, dưới thì dân oán hờn, ngoài thì ngoại bang giận dữ, trong thì không có kế hoạch tốt hay. Cứ việc đến thì lo, nhưng không giải quyết được công việc. Miễn cưởng theo mưu kế của bậc lão thần (ý chỉ họ Phan), bỏ đất đai và dân chúng 6 tỉnh Nam Kỳ, để cầu khỏi nạn chiến tranh và yên xã tắc. Trên 200 năm khai sáng gìn giữ gian nan, bỏ trong một sớm; chính là tội của tên tiểu tử này,kể sao cho xiết! Túng sử có lập được nên công đức cũng không đủ chuộc được tội lỗi. Huống hồ Trẫm lại không công không đức, chỉ trơ mặt trơ thân ngồi nhìn, lần lữa cho đến già yếu; tuy thiên hạ không nỡ trách ta, nhưng lòng ta há lại không suy nghĩ .” 
(Tự Ðức Thánh Chế Văn Tam Tập, quyển nhị, Tự Biếm Dụ)

Thứ Tư, 4 tháng 7, 2018

Bán rẻ lãnh thổ… đơi...! Ai muốn mua rẻ chạy khỏe lại đơi...!



--------------------
Vào thời các đế quốc Châu Âu tranh nhau đi ăn cướp các thuộc địa thuộc các châu lục khác thì việc mua bán, sang tay cả một vùng lãnh thổ là chuyện… bình thường. Tựa như mỗi mùa Wold Cup, thanh niên Annam lại tưng bừng trẩy hội, đem từ con cún cưng tới... ngôi biệt thự, ra gửi tiệm cầm đồ ấy mà.
Chẳng hạn, năm 1795, Pháp đã mua từ Tây Ban Nha, theo Hiệp ước Basel, một phần lãnh thổ Santo Domingo và  năm 1800 là Louisiana, theo Hiệp ước San Ildefonso. Đến năm 1803, Pháp bán quách lãnh thổ Louisiana (rộng 2144,5 km2) cho Hoa Kỳ với giá hơn 15 triệu USD.
Năm 1867, Sa Hoàng nước Nga bán vùng lãnh thổ Alaska rộng 586,412 dặm vuông cho nước Mỹ với cái giá gây tranh cãi đến tận bây giờ, là chỉ có 7,2 triệu USD. Năm 1916 nước Mỹ vẫn còn mua được từ Đan Mạch các hòn đảo nằm ở vùng Caribe gồm St John, St Thomas và St Croix với giá 25 triệu USD.
Đấy là nói chuyện những vùng đất hoang vu, hải đảo hay một vùng lãnh thổ. Chứ còn thời đó, tức là thời mồ ma Chủ nghĩa thực dân, thì việc “nước mẹ” đem cầm cố nguyên cả một “nước con” chỉ là chuyện thường tình như chuyện Lão Hạc bán chó hay chị Dậu cầm… con mà thôi.
Năm 1898, canh bạc tất tay giữa Tây Ban Nha và Hoa kỳ kéo dài vẻn vẹn chỉ trong vòng 4 tháng đã kết thúc bằng Hiệp định Paris 1898. Theo đó Tây Ban Nha phải nhượng lại cho Mỹ quyền kiểm soát các lãnh thổ gồm Cuba, Puerto Rico, Guam, và một phần tây Ấn.
Cũng theo Hiệp định này, toàn bộ lãnh thổ nước Philippine được nhà vua Tây Ban Nha sang tay cho Mỹ với giá bèo là 20 triệu USD.
Annam mình cũng xuýt bị “từ mẫu” là nước Pháp thần thánh đem gán “nguyên con” cho nước Phổ (Đức) sau cuộc chiến Pháp – Phổ năm 1871 với giá… chả có đồng nào. Cũng may (hay là không may nhỉ?) là người Phổ bĩu môi chê xứ Annam xa xôi bèo bọt không nhận, cứ đè cổ bắt “nước mẹ” của chúng ta (Pháp) phải cống nạp hai tỉnh Alsace và Lorraint màu mỡ riêu cua, cộng thêm 5 tỷ Piatres (đồng quan Pháp, một đồng có giá bằng 0,72 lạng bạc Annam).
Sau, thì những vụ mua đi bán lại kiểu này khó có thể tồn tại do Nguyên tắc quốc tế về toàn vẹn lãnh thổ được bảo vệ bởi Hiến chương Liên hợp quốc.
Nhưng dẫu sao, lãnh thổ của một quốc gia vẫn là một không gian địa lý có thể biến động. Đường biên của các quốc gia vẫn có thể thay đổi khi một liên bang tan rã, hoặc từ một cuộc trưng cầu dân ý dẫn tới việc ly khai kiểu Crimea hay Brexit. Hoặc đơn giản hơn, là có sự phân chia lại sau khi các tranh chấp lãnh thổ giữa hai quốc gia được giải quyết bằng thương lượng.
Tuy vậy, ngày nay, những thương vụ tư nhân hay chính phủ bán cả một vùng lãnh thổ (cường điệu lên một bậc thì gọi là … “bán nước”) thuộc các nước Tư bổn chẳng những vẫn diễn ra mà còn hoàn toàn được pháp luật bảo hộ.
Nước Mỹ chẳng hạn, ngay từ khi lập quốc, quyền tư hữu về đất đai đã được Luật pháp Hoa Kỳ thừa nhận.
Điều đó có căn nguyên đến từ ngài Tổng thống đầu tiên của nước Mỹ là G. Washington. Trước khi lên làm Tổng thống vào năm 1776, tướng Washington đã là một nhà đầu cơ đất đai lừng danh nước Mỹ với việc sở hữu đến 45.000 mẫu đất (vào năm 1768). Ông cũng chính là người hưởng lợi trực tiếp sau các cuộc hành quân liên tục diễn ra nhằm cưỡng chế các bộ lạc da đỏ văng ra khỏi vùng đất phía Nam sông Ohio. Di chúc của vị “Bố già dân tộc Mỹ” được công khai năm 1800, sau khi ông mất gần 1 năm, liệt kê đến 52.194 mẫu đất nằm trải dài suốt 6 bang của nước Mỹ gồm Virginia, Pennsilvania, Mariland, New York, Kentucky và Ohio. Gần 250 năm sau, đến lượt một nhà đầu cơ bất động sản khác, Donald Trump, lên làm tổng thống.
Khác với nước ta, đất đai là sở hữu toàn dân, do Nhà nước quản lý nên cóc ai dám bán cho người nước ngoài, chứ còn dân Mỹ có thể thoải con gà mái bán… nguyên cả một làng, một thị trấn cho “ngoại bang” mà chính quyền cứ “mặc kệ”, còn dân chúng cũng chẳng ai rảnh mà biểu tình.   
Bởi vậy, năm 2012, ông Phạm Đình Nguyên, một người Việt Nam mới có cơ hội chi ra 900.000 USD để mua lại và làm Thị trưởng thị trấn Buford thuộc bang Wyoming, nước Mỹ.
Nghèo” như ông Nguyên cũng có thể làm thị trưởng Hoa Kỳ thì các đại gia đất Việt cũng có thể làm… vua xứ người chứ sao.
Dưới đây giới thiệu một số… lãnh thổ khác trên thế giới đã và đang được rao bán, ai có tiền thì mại dô, mại dô. Nhớ là đấu giá nhé, bạo chi tất thắng. Tiến lên, toàn thắng ắt về ta!
Tại Mỹ đơi:
Thị trấn Garryowen, nằm bên đường cao tốc liên bang số 90, bang Montana, có diện tích hơn 31.000 m2 nằm trong khu bảo tồn Crow Indian Reservation được rao bán với giá khởi điểm là 250.000 USD, tương đương hơn 5 tỷ đồng.
Cũng được rao bán cùng giá ấy (250.000 USD) là thị trấn Swett, ở Nam Dakota,  diện tích hơn 24.000 m2.
Đắt hơn gần gấp đôi là thị trấn khai thác mỏ Cerro Gordo rộng 1.214.056 m2, nằm bên dãy núi Inyo, bang California được niêm yết với giá 925.000 USD (tương đương hơn 21 tỷ đồng).
Tiếp đến là thị trấn Tiller phong cảnh tuyệt đẹp ở Oregon đang được rao bán 3,85 triệu USD (tương đương 85 tỷ đồng).
Ai không ưa cảnh mà lại muốn làm Thống tướng xin mời quan tâm đến căn cứ quân sự Montgomery nằm giáp biên giới Mỹ - Canada. Pháo đài này từng được mua đi bán lại nhiều lần, năm 1983 đã thuộc về một ông tên là Victor Podd. Nay nhà Podd túng tiền đang rao bán trên eBay và cắm biển rao cả trên thực địa. Diện tích và giá cả khu đất như ảnh dưới:
Một bảng hiệu gần pháo đài cho thấy giá bán pháo đài cộng với mảnh đất rộng hơn 38 ha là 2,95 triệu USD. Ảnh: Wikipedia.

Canada đang cần bán thị trấn Bradian ở tỉnh British Columbia diện tích khoảng 0,2 km2. Tháng 2-2010, thị trấn này được rao giá 1,3 triệu USD nhưng ế, nay đại hạ giá còn 995.000 USD.
Nước Anh muốn bán ngôi làng West Heslerton ở North Yorkshire với giá 20 triệu Bảng, tương đương 630 tỷ đồng. Tài sản kèm theo gồm 1 biệt thự với 21 phòng ngủ, 1 quán rượu, 1 trạm xăng, 43 ngôi nhà khác và 850 ha đất. Ngoài ra, ngôi làng West Heslerton còn có 1 nhà thờ, 1 trường tiểu học và hơn 50 ha rừng.
Úc cũng đang rao bán thị trấn Allies Creek ở phía đông nam của bang Queensland diện tích rộng gần 17ha đang được rao bán với giá 750.000 đô Úc (tương đương khoảng 12 tỷ đồng).
Cũng trên xứ sở Kanguru, ai thích làm Vua thì mua quách khu đất rộng tới 101.411 km2, (hơn10 triệu ha, gần bằng lãnh thổ nước Anh). Khu đất này trải dài từ miền Nam đến miền Tây nước Úc với rất nhiều trang trại chăn nuôi gia súc. Để tham quan hết “bất động sản” lớn nhất thế giới này, phải dùng đến máy bay. Giá vương quốc là 325 triệu USD.
Trên nói chuyện vặt, tư nhân bán… lãnh thổ. Còn Chính phủ Hy Lạp túng tiền đang rao bán (trên trang Private Islands Online) tới 9 hòn đảo, được mệnh danh là những “thiên đường nổi” đẹp nhất Địa Trung Hải. Giá dao động từ 1,5 triệu USD (khoảng 31,5 tỷ đồng) cho tới 186 triệu USD (khoảng 3.906 tỷ đồng), gồm:
Đảo St. Athanasios, diện tích hơn 1 ha, chủ yếu trồng cọ và cây ô liu. Đảo này có giá niêm yết là 1,9 triệu USD.
Đảo Modi, một hòn ngọc quý với diện tích gần 21 ha. Đảo này nằm ở phía Tây của Vịnh Corinth. Mức giá chào bán là 1,5 triệu USD.
Đảo Tokmakia có diện tích gần 14 ha, nằm ở ngoài khơi bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ, giá 5 triệu USD.
Đảo Kardiotissa nằm giữa Crete và Athens. Đảo này có diện tích “khủng” tới hơn 113 ha mà giá lại cực rẻ, chỉ có 8 triệu USD.
Đảo St. Thomas Island nằm ở phía Tây của Athens có diện tích gần 122 ha, nhưng nhà nước chỉ ưng bán hơn 20 ha (còn thương lượng) với giá 15 triệu USD.
Đảo Dulichium là hòn đảo lớn nhất của Hy Lạp với diện tích xấp xỉ 527 ha. Lớn nhất nước cũng bán luôn, miễn là nôn ra đây 50 triệu USD.
Đảo Omfori, diện tích khoảng 446 ha, chỉ được phép khai thác khoảng 90 ha, giá 62 triệu USD .
Đảo Gaia có diện tích hơn 17 ha, đã có giấy phép xây dựng 6 biệt thự và phân lô (6 lô). Mức giá chào bán của đảo Gaia là 5 triệu USD
Cuối cùng là đảo Patroklos, kèm theo 5.050 cây ô liu, cùng với rất nhiều thông và cây bụi cộng thêm 1.500 con dê. Giá 186 triệu USD.
Bác nào muốn mua thêm đảo trên thế giới, có thể vào đây  tùy ý ngắm nghía và tham khảo giá, bác thích em chiều. Ai đủ tiền mua được hết các lãnh thổ trên, không những chỉ làm vua hay tổng thống vài nước, mà còn có thể kiêm cả chức Chủ tịch Liên Hợp Quốc.

Nhân mùa Wold Cup, cần tiền bán gấp lãnh thổ đơi...Nhanh chân, nhanh chân, ai muốn mua rẻ chạy khỏe lại đơi...! 
Nhanh chân, nhanh chân, bốn năm mới có một lần, WC sắp bế mạc rồi đấy.

-----------------------