Thứ Hai, 30 tháng 5, 2016

Môi trường đâu chỉ là “cá với tôm”?


Thánh Obama thăng rồi, chả biết có mống nào ra đường trương biển "tôi chọn cá tôm" nữa không???

---------


Nói đến môi trường thì phải nghĩ ngay đến rác thải. Nhiều thứ lắm: rác đô thị, rác sinh hoạt, rác xây dựng, rác công nghiệp, rác nông nghiệp, rác y tế... và còn có cả rác... nghiện, do các anh như anh Hiếu gió chẳng hạn, vứt ra.
Nhưng hãy nói về rác xây dựng, vì sự phát triển đô thị, giao thông, công nghiệp, nông nghiệp... hầu hết gắn với các dự án xây dựng. Nói ngược một chút, thì rác xây dựng là biểu tượng gắn liền với sự nghiệp hiện đại hóa của một quốc gia.
Ở thành phố, ai chả mơ ước có một căn nhà phố hay một căn hộ chung cư, mà ở nông thôn bây giờ nhà cửa của nông dân hầu hết cũng đã được kiên cố hóa.
Thời buổi này còn ai muốn ở “một túp lều tranh với hai trái tim vàng” không? Nếu có, tôi đồ rằng đó phải là các đại gia. Nhưng, điều đó chỉ xảy ra sau khi họ đã “no xôi chán chè” với các biệt thự hoặc căn hộ cao cấp mà họ sở hữu.
Các anh đang cầm biển “tôi chọn cá tôm” kia, các anh thích ở biệt thự, căn hộ cao cấp, hay nhà phố? Hay các anh ở nhà lá nhé, cho nó thân thiện với môi trường?
Hỏi thế là vì nếu các anh thực bụng muốn “bảo vệ môi trường” thì nên biết một trong những thủ phạm gây ô nhiễm và tàn phá môi trường nhiều nhất, chính là ngành xây dựng.
Rác thải xây dựng chiếm đến khoảng 40% tổng lượng rác thải đô thị. (Con số ở Mỹ là 325 triệu tấn trên 800 triệu tấn, tương đương 40%, Trung quốc có lẽ còn cao hơn).
Rác xây dựng được đổ trộm tại hồ Đầm Hồng - Khương Đỉnh - Thanh Xuân - Hà Nội, Clip của VTV cho thấy anh bảo vệ ra ngăn cản bị anh ba gác tấn công, chả ai dám cản. Chắc có ảnh hưởng từ vụ anh ba gác ăn vạ lên ngôi ở quận 6 -Tp. HCM. 
Chất thải rắn trong xây dựng không chỉ là cát sỏi bê tông gạch vụn mà còn là kính, gỗ, vải, thạch cao, sơn, nhựa, nhựa đường, hóa chất… Chúng chiếm đất với một diện tích lớn nhất và thải ra những chất độc hại, khiến cho khu vực bãi chứa và các hồ ao xung quanh bị ô nhiễm, từ đó làm giảm chất lượng nước và thổ nhưỡng.
Nếu các anh thấy đường phố Hà Nội chìm trong bụi mù, hãy khoan kết tội các ống khói với ống pô xe hơi, xe máy. Theo thống kê của Bộ TN&MT, Hà Nội đang là một đại công trường với hơn 1.000 công trình lớn nhỏ đang thi công. Và ngành xây dựng (trong đó có cả xây dựng giao thông, xây dựng công nghiệp...) là những nguồn phát tán ra bụi mịn nhiều nhất mà (hình như?) vẫn chưa có cách gì kiểm soát. Tại Bắc Kinh, khi ban hành “báo động đỏ” về môi trường hôm 7-12-2015, chính quyền đã phải cấm toàn bộ các hoạt động xây dựng ngoài trời.
Ngành xây dựng không chỉ xả chất thải rắn và bụi bẩn vào môi trường không đâu. Còn nữa, nếu các anh muốn ở nhà lầu, thì anh phải chấp nhận việc tàn phá cảnh quan, môi trường. Sẽ phải có người phá đất đốt lò nung gạch cho anh xây tường, người khác sẽ phá núi để có đá, có xi măng cho anh đổ sàn, và các anh “cát tặc” sẽ phá sông để có cát cho anh trộn vữa. Và dĩ nhiên, đừng quên phải có một anh Formosa nào đó, làm ra thép cho các anh chứ, để các anh đặt vào trong bê tông, thành ra bê tông cốt thép. 
Riêng các đại gia đã chán bê tông cốt thép chuyển sang say mê “lều tranh”, thì cũng sẽ phải có người phá rừng cho các bác ấy lấy gỗ làm cột làm kèo.
Các anh “yêu môi trường” quá đi, đến mức đang lăn ra đường ăn vạ, tôi biết. Nhưng nếu phải chọn nhà lầu với nhà lá thì các anh chọn gì? Tôi chắc 100% các anh không chọn nhà lá và thực tế, cũng 100% luôn, là các anh đang ở nhà xây, chẳng nhà phố, biệt thự thì cũng căn hộ cao cấp. Anh A thẹo đâu rồi, có dám đứng ra làm chứng cho tôi?
Thôi được, các anh kiên quyết “chọn cá” chứ không “chọn lá hay lầu”. Vậy tôi gợi ý cho các anh nuôi cá bè nhá.
Vâng, nếu anh nuôi cá bè thì điều đầu tiên là anh phải có cam kết bảo vệ môi trường gửi cơ quan quản lý để xin giấy phép. Tại sao phải cam kết? Thì vì việc nuôi cá bè của anh chắc chắn sẽ xâm hại đến môi trường. Và đương nhiên anh không thể vừa bán cá bè lấy tiền xây nhà lầu, lại vừa to mồm đòi hỏi các loài thủy sinh tự nhiên trong khu vực nuôi cá bè của các anh vẫn còn phong phú và sạch sẽ như trước. Điều đó bất khả thi, đúng như anh Xuân Phàm trước lúc bị Formosa đuổi việc đã nói, “đến thủ tướng cũng bó tay”. Vì thủ phạm chính là các anh chứ ai, khi các anh dùng thức ăn công nghiệp, rồi bổ sung cả nội tạng động vật, phân heo, phân bò... làm thức ăn nuôi cá, rồi dùng thuốc kháng sinh chữa bệnh cho cá. Vậy thì, dù muốn hay không các anh cũng làm mất cân bằng sinh thái, làm ô nhiễm môi trường nước và cả không khí khu vực nuôi cá.
Hóa ra các anh “tôi chọn cá” cũng xả thải khác gì anh Formosa? Tất nhiên quy mô anh kia lớn hơn, nhưng bù lại, anh kia còn có cả một hệ thống tốn kém để xử lý nước trước khi xả nó xuống biển. Chứ còn các anh, liệu có định bỏ ra đồng cắc nào cho việc “xử lý” hay cứ cứ thế tương thẳng xuống nước?
Hay là các anh “muốn tôm”? Nào, thì ta nuôi tôm.
Anh muốn nuôi tôm, anh hãy thôi trồng lúa và hãy đào mương dẫn trộm nước mặn vào ruộng nhà anh. Nhưng xin cảnh báo trước là chính quyền sẽ ngăn cấm điều này và anh cũng rất dễ bị kiện tụng bởi các chủ ruộng lân cận. Vì nước mặn mà anh dẫn vào sẽ nhiễm sang ruộng của họ. Người ta phải mất rất nhiều năm mới có thể rửa mặn cho cánh đồng và bây giờ thành quả về môi trường đó có thể bị anh hủy hoại trong vòng vài tiếng đồng hồ.
Hoặc nếu chẳng phá lúa thì anh phải phá rừng ngập mặn lấy mặt nước mà nuôi tôm.
Nhưng khi các anh phá rừng ngập mặn thì cũng là đang phá đi môi trường sống và vườn ươm của nhiều loài động vật, cả dưới nước lẫn trên cạn. Không còn rừng ngập mặn thì các động vật trên cạn (như bò sát, khỉ và chim) cũng mất đi nguồn thức ăn phong phú là tôm, cua, cá, sò trên bãi triều. Chẳng những hệ sinh thái tại chỗ bị hủy hoại, mà các sinh vật vùng bãi triều cũng mất đi nguồn thức ăn, hậu quả là sản lượng cá, tôm, cua ngoài biển cũng giảm theo. Đó là chưa nói đến chuyện nước bẩn có hoá chất độc bao gồm thức ăn công nghiệp và kháng sinh tồn dư từ các đầm nuôi tôm do các anh thải ra còn làm chết cả cây cối xung quanh. 
Và sau khi thu hoạch tôm, các anh đừng quên điều này: trước khi đông lạnh nó, hãy dùng bơm tiêm để bơm chất CMC (Carboxy Methyl Cellulose) vào con tôm, làm cho nó vừa bóng đẹp lại vừa "tăng trọng" thêm đến 15% mà kiếm thêm lợi nhuận xây nhà lầu.
Các anh hô oang oang khẩu hiệu “tôi chọn cá tôm”. Nhưng việc các anh đang làm, có trời mới biết có phải để bảo vệ môi trường hay không, hay là ngược lại, đang "gây sự" với môi trường?
Kẻ phàm phu như tôi, tuy mồm không hô khẩu hiệu, nhưng bụng cũng đang “muốn cá tôm”. 
Chẳng hạn tôi rất thích ăn cá linh kho dưa. Nhưng nếu tôi được ăn món khoái khẩu này, thì trước đó người nông dân miền Tây sẽ phải chịu khổ vì lũ lụt, bởi cá linh chỉ có khi mùa lũ về. Nhưng, nếu không có cảnh miền Tây sống chung với lũ, thì cũng chẳng bao giờ có phù sa màu mỡ bồi đắp nên vùng đồng bằng tạo nên vựa lúa của đất nước.   
Vậy thì, cái gì cũng có giá của nó, và môi trường đâu chỉ là “cá với tôm”.
À nếu các anh vẫn quyết “chọn cá tôm” và ra đường ăn vạ, xin hãy bắt đầu bằng việc đừng đổ rác xuống biển, xuống sông, xuống hồ đã nhé!


Rác trên kênh Nhiêu Lộc

Cá chết tại hồ Thiền Quang

------
Mời đọc thêm bài này trên Blog Meo Meo: CHỌN NHÀ MÁY THÉP HAY CHỌN CÁ?
Link: http://dontbullshit.blogspot.com/2016/05/chon-nha-may-thep-hay-chon-ca.html


Thứ Năm, 26 tháng 5, 2016

Chuyện Obama công du Việt Nam, bị cắn gấu quần






-----------


Chuyến công du lịch sử của Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama sang Việt Nam trong vài ngày vừa qua đáng lẽ phải một cơ hội vàng” đối với các anh Cờ vàng hải ngoại và đám rân trủ giả cầy trong nước.
Đặc biệt là trong bối cảnh thời điểm công du diễn ra nối tiếp ngay sau các vụ việc mà họ đã dày công chuẩn bị, như các vụ việc “biểu tình cá chết”; “tẩy chay bầu cử” và hiện nay là “Trần Huỳnh Duy Thức tuyệt thực”.
Họ kỳ vọng vào chuyến thăm của “ông chủ” Obama những gì?
Lợi dụng vụ “cá chết dọc bờ biển miền Trung”, họ ký “thỉnh nguyện thư cá thối” đăng trên trang web của Nhà Trắng, đòi chính phủ liên bang Mỹ can thiệp bằng cách cung cấp đánh giá độc lập về tác động môi trường của nhà máy thép [Formosa]. Chúng tôi cũng đề nghị Tổng thống Obama nêu vấn đề này với chính phủ Việt Nam trong chuyến thăm vào tháng Năm".
Theo lịch trình chuyến thăm, vào buổi sáng ngày 24-5, ông Obama có cuộc gặp đại diện “một số tổ chức xã hội dân sự Việt Nam” tại khách sạn JW Marriott - Hà Nội, họ muốn ông Obama phải trao đổi về các vấn đề chính trị, về bầu cử Quốc hội, về một số điều khoản trong Bộ Luật Hình sự, thậm chí là về… Hiến Pháp 2013”.
Và xuyên suốt, vẫn là chuyện “dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương  cho Việt Nam”. Họ muốn ông chủ Obama của họ hoặc nói “không”, hoặc chí ít cũng phải biết “mặc cả” với chính quyền Hà Nội, đế đổi lấy cái gọi là “sự cải thiện nhân quyền”.

Cho nên, trước khi Obama sang Việt Nam, Phạm Viết Đào còn hý hửng đặt tít bài: “Đừng mơ dỡ lệnh cấm bán vũ khí sát thương nếu không thực hiện cam kết nhân quyền”.

Cẩu nô Nguyễn Lân Thắng thì:“Mong muốn chính phủ Mỹ đặt các điều kiện cụ thể trong tiến trình bán vũ khí cho Việt Nam, đặc biệt là về việc cải thiện nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do báo chí, chấm dứt việc đàn áp những người bất đồng chính kiến và trả tự do ngay cho các tù nhân chính trị vô điều kiện.”
Đó là những “thỉnh cầu”, nói cách khác, là việc níu kéo, là việc "cắn gấu quần" của đám cẩu nô với người chúng coi như "ông chủ". 
Bây giờ hãy điểm lại xem trong chuyến đi Việt Nam, Obama đáp ứng được gì?
Về chuyện “cá chết miền Trung”, có lẽ Obama đã OK, number one với nội dung bản trả lời trên bloc này nên đã lờ tịt các thỉnh cầu của đám “thỉnh nguyện thư cá thối” (?). Không hề thấy Obama nêu vấn đề này với chính phủ Việt Nam hay đả động đến chuyện đòi cho chuyên gia đến Vũng Áng để cung cấp đánh giá độc lập về tác động môi trường của nhà máy thép [Formosa]. Trớ trêu và thâm thúy hơn cả, việc duy nhất mà Obama làm trong chuyến thăm có “liên quan đến cá”, lại là sự kiện đến thăm và hào hứng cho cá ăn tại ao cá Bác Hồ trong Khu di tích Nhà sàn.  
Việc thứ hai, thì đúng là vào buổi sáng ngày 24-5, ông Obama có dành hẳn ra, những “nửa giờ đồng hồ” để tiếp các đại diện của “một số tổ chức xã hội dân sự Việt Nam”.
Tại đây, Obama đã gặp gỡ sáu vị, gồm ông Lê Quang Bình (Đốc Bình bốc thuốc - Viện iSEE), ca sĩ Mai Khôi, nhà báo Mai Phan Lợi, mục sư Nam Quốc Trung, mục sư Lê Quốc Huy và bà Nguyễn Hồng Oanh, giám đốc trung tâm IDEA (Ban hành động vì sự phát triển của người khuyết tật).
Bà Oanh kể lại (với BBC):
“Cuộc gặp Tổng thống Obama diễn ra trong vòng nửa giờ, mỗi khách mời có hơn một phút trình bày về bản thân và lĩnh vực mà mình đang hoạt động. Tôi nói về quyền của người khuyết tật, ông Bình nói về quyền của người LGBT (người đồng giới, lưỡng giới tính), cô Khôi nói về quyền tự do biểu diễn.”
Bà cũng cho hay là “chỉ hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ quyền của người khuyết tật, không quan tâm đến chính trị nên không biết về những khách mời khác như ông Quang A”.
Nghe lề trái đồn, các nhà rân trủ như Nguyễn Quang A, Hà Huy Sơn, Đoan Trang … bị an ninh Việt Nam ngăn cản không cho đến dự. Nhưng theo một nguồn tin chưa được kiểm chứng từ một bác sĩ thú y, thì chính an ninh Mỹ và Obama cũng rất ngại tiếp xúc với các vị này, lý do đơn giản là vì họ chưa nhận được báo cáo đầy đủ về việc chích ngừa của các vị chuyên gia "xã hội gây sự" này (chắc là Rabie-R, mỗi năm nhắc lại một mũi).
Cho nên, bà Oanh nói thêm: “Không có ai đề cập về chuyện bầu cử Quốc hội cũng như vấn đề nhân quyền hay tù nhân chính trị”.
Đã vậy, ngay sau cuộc gặp nói trên, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, trước 2.300 người Việt Nam ngồi trên những hàng ghế nhung đỏ, Obama tuyên bố như tạt mẻ vào mặt đám cẩu nô: "Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền, và không có quốc gia nào có thể áp đặt ý chí của mình lên nước khác"sau đó, ông nhận được một tràng vỗ tay kéo dài.
Chẳng những thế, Obama còn nói thêm, ngay cả ở Hoa Kỳ, chúng tôi cũng“còn xa mới hoàn hảo, với nhiều vấn đề như "quá nhiều tiền trong nền chính trị" hay vấn đề “thiên vị chủng tộc trong hệ thống tư pháp hình sự” và “bất bình đẳng giới”.
Việc thứ ba và là sự kiện quan trọng nhất, là việc xóa bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương với Việt Nam”. Với tầm tư duy nô tài, nhiều năm nay, đám cẩu nô vong bản thường “lạy Cha chúng con ở trên trời”, cầu nguyện cho nước Mỹ mãi mãi không dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí với Việt nam, những mong sao cho Việt Nam luôn kém thế trong tương quan quân sự với người Tàu. Có vậy, một khi có tranh chấp xảy ra mới là cơ hội để cẩu nô “đục nước béo cò”. Điều này từng được chứng minh qua “tư duy chiến lược” của ông “xuýt tổng thống” Cù Huy Hà Vũ” kèm theo “nỗi buồn” của các nhà rân trủ đầu đàn, khi mà dàn khoan HD 981 của Tàu rút ra ngoài vùng tranh chấp.
Thế nhưng, cũng ngay trong ngày đầu tiên của chuyến công du (23-5), Obama đã bất ngờ công bố quyết định về việc xóa bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương đối với Việt Nam và coi đó là “bước đi xóa bỏ rào cản cuối cùng trong tiến trình bình thường hóa quan hệ giữa hai nước từng là cựu thù”.
Đến cái tuyên bố nói trên của Obama thì thật là quá sức chịu đựng của các cẩu nô, phần lớn đều nghẹn ngào uất ức chửi thầm, chỉ một vài chú ẳng lên được đôi tiếng, cho rằng quyết định này là “thất sách”, là “quá sớm” hoặc “đáng buồn.”
Nguyễn Vũ Bình thở than: “Tôi cảm thấy rất buồn vì việc dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương nhân dịp Tổng Thống Obama sang thăm Việt Nam, đúng ra phải là một cơ hội lớn gây sức ép lên nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam trên vấn đề nhân quyền”.
Cẩu nô Nguyễn Đình Hà sủa ngược lên “ông chủ”:
“Nếu tôi mà là ông Obama, tôi sẽ rời Hà Nội ngay lúc 12h trưa để qua Nhật luôn và hủy phần thời gian còn lại của chuyến thăm!
Tôi xin nhấn mạnh lại: chúng ta cần cả hai, nhân quyền và chủ quyền quốc gia! Lệnh cấm vận vũ khí có thể dỡ bỏ một phần hoặc toàn phần, nhưng điều kiện vẫn là nhân quyền phải được bảo đảm và chấp thuận theo gói, theo luật xuất khẩu vũ khí của Mỹ đấy nhé”.
Cẩu nô Phạm Chí Dũng chuyển sang “bắt vạ” cả nước Mỹ: “Nhưng vấn đề không còn nằm ở cá nhân Obama, mà là thể diện của cả nước Mỹ. Ngay sau khi chính phủ Mỹ đưa ra quyết định lịch sử bãi bỏ hoàn toàn chính sách cấm vận vũ khí dành cho chính quyền Việt Nam, chính người Mỹ đã bị giới tráo trở nhân quyền chơi một vố đau điếng”.
Hế hế! 
Các chú cẩu nô quên tiệt rằng nhà luyện cẩu nhiều kinh nghiệm Richard Nixon đã từng dạy: “Làm quái gì có chuyện cái đuôi chó lại đòi điều khiển cái đầu con chó được”. “Cái đuôi chó” mà Nixon ám chỉ ở đây, là Nguyễn Văn Thiệu, khi ấy là đương kim Tổng thống nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa của các chú đấy!
Nhưng thôi, bây giờ xin chuyển sang cái “thỉnh nguyện” thứ tư, cái này vui phết, nhưng ở trên chưa vội nói tới.
Số là theo lịch trình công du, khi Obama vào Sài Gòn, ông muốn đến thăm chùa Ngọc Hoàng (còn có tên là chùa Phước Hải), một ngôi chùa cổ, tọa lạc tại đường Mai Thị Lựu, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh.
Ngay sau khi biết tin này, nhà rân trủ lừng ranh là “ráo xư” Tương Lai đã lập tức gửi một bức thư cho Đại sứ Mỹ Ted Osius. Thư khẩn, “cấp bách”, đề ngày 22-5-2016, gửi rồi còn đăng công khai trên trang Bọ xít.
 “Tp Hồ Chí Minh ngày 22.5.2016
Kính gửi Ngài Đại sứ Ted Osius,
Đã từng quen biết và tin tưởng ngài qua những lần tiếp xúc với Ngài và với những quan chức ngoại giao của Đại sứ quán Mỹ ở Hà Nội và Tổng lãnh sự quán Mỹ tại thành phố Hồ Chí Minh, tôi muốn trao đổi với Ngài một vấn đề mà theo nhận thức của tôi là hết sức cấp bách và tế nhị vào dịp Tổng thống Barack Obama đến Việt Nam và thăm TP Hồ Chí Minh…”.
Buồn cười là từng quen biết và tin tưởng với Ted Osius nhưng “ráo xư” Tương Lai, chắc vì thấy chưa đủ đô và muốn bơm thêm liều thuốc “tăng trọng” cho bức thư, nên ông không viết nó với tư cách cá nhân, mà vẫn dùng chức danh kiếp trước “Nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam, nguyên thành viên Tổ Tư vấn Võ Văn Kiệt”. Ngoài ra “ráo xư” còn mượn tạm thêm danh hiệu của ông Cao Huy Thuần một Giáo sư thực thụ đang giảng dạy tại Pháp, dưới danh nghĩa là một “đồng tác giả” bức thư.
Có gì mà hết sức cấp bách và tế nhị? Thì ra nội dung bức thư cũng vẫn chỉ là một “thỉnh nguyện thư” gửi đến Obama, lẵng nhẵng kéo gấu quần ông chủ, lạy ông, xin ông đừng bước chân vào cái chùa này.
Tại sao? Thì vì sau khi khẩn trương “tra cứu” (trên Wiki), ngài “ráo xư” biết được chùa này có nguồn gốc do người Hoa xây dựng nên, tuy đã có hơn 100 năm tồn tại trên đất Việt. Mà chùa lại thờ ông Ngọc Hoàng và v..v… gì đó.
Ông “ráo xư” mải mê tố cáo (kỳ thị) đối với cái chùa của người Hoa, mà quên rằng ở đất Sài Gòn còn cả những chùa của người Miên, người Chăm, Ấn giáo, đạo Hồi. Đó là chưa kể đến một đống các nhà thờ, từ thật sự vinh danh Chúa cho đến cái tổ quỷ như Dòng Cứu thế Kỳ Đồng. Nếu Obama đến đó hẳn ông “ráo xư” đã khỏi cần “théc méc”.
Và “ráo xư” Tương Lai, trong lúc khẩn cấp "cắn gấu quần" ông chủ, ngài cũng quên tiệt quá khứ và hiện tại. Rằng Obama, sinh ra ở Hawai, học tiểu học tại Indonesia, trở thành công dân Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ (đa chủng), và vẫn tự hào là Tổng thống Hoa kỳ đầu tiên có gốc gác Phi châu (Kenya). Thêm nữa, cả nhà ông theo đạo Tin Lành. Vậy thì, một người như Obama, có lý do gì mà "tẩy chay" chùa Ngọc Hoàng?
Thế thì, giả sử Ted Osius có chuyển thư ông Tương Lai đến ông chủ Obama.  Đọc xong, thế nào Obama cũng cười khẩy:

Ơ kìa, đã bảo là nhân quyền mà lỵ! Thế thì đèo mẹ, tao thăm đâu, đạo gì, thờ ai? Kệ tía tao! 

Mắc mớ mẹ gì đến lũ cẩu nô chuyên cắn gấu quần chúng mài! 

------------
Nói chuyện với giới trẻ Việt Nam hôm 25-5, Obama cho biết đã từng ăn thịt chóa. Các cẩu nô cần cảnh giác!



Thứ Hai, 23 tháng 5, 2016

Chào Obama!





------

Rất sớm, từ tháng 2-2016, tại Hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ-ASEAN ở Sunnylands, bang California, Tổng thống thứ 44 của Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ Obama đã bày tỏ ý định đi thăm Việt Nam. Sáng nay, khi trả lời phỏng vấn một tờ báo Việt Nam, ông còn bảo: “Tôi đã rất muốn đến sớm hơn”.
Ông Obama là vị tổng thống Hoa Kỳ thứ 3 thăm Việt Nam, sau các ông Bill Clinton (2000) và George W. Bush (2006). Tất cả họ đều được chào đón nồng nhiệt theo truyền thống hiếu khách của dân tộc Việt Nam.
Chính phủ Hoa Kỳ coi chuyến thăm Việt Nam của Obama là một trong những sự kiện ngoại giao quan trọng nhất trong năm nay, qua đó nhấn mạnh vị trí đặc biệt của Việt Nam trong chiến lược “xoay trục” sang châu Á của Washington, đồng thời thể hiện dấu ấn cá nhân trong quan hệ song phương mà ông Obama đã dành nhiều công sức thúc đẩy trong nhiệm kỳ qua.
Chiến tranh đã lùi xa hơn 40 năm và nói như lời Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry trong chuyến thăm Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2015, "giai đoạn hòa giải đã kết thúc." Tuy nhiên, có những vấn đề là trở ngại trong quan hệ giữa hai nước. Với Việt Nam, đó là những hậu quả chiến tranh như chất độc da cam/dioxin, là bom mìn/vật liệu chưa nổ còn sót lại đang hàng ngày hàng giờ đe dọa sinh mạng và cuộc sống của người dân.
Cho dù Tổng thống Obama sẽ hết nhiệm kỳ vào cuối năm nay nhưng không vì thế mà chuyến thăm Việt Nam của ông sẽ giảm bớt ý nghĩa. Nếu nhìn vào chiều dài quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ thì sự thúc đẩy từ lúc bình thường hóa cho đến mở rộng quan hệ, xác lập quan hệ Đối tác toàn diện đều có sự ủng hộ của cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa. Thực tế đã chứng minh rằng trong 20 năm qua, các đời tổng thống của các đảng khác nhau ở Hoa Kỳ đều thúc đẩy mối quan hệ này ngày càng phát triển.
Tôn trọng quá khứ đi đôi với hướng tới tương lai là một thực tế và là biểu tượng cho sự hợp tác song phương giữa các nước cựu thù.
Xin mời cùng xem các hình ảnh đầu tiên và thú vị về chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ Obama.
Obama hóa ra là người "tươi" nhất. 
Thật vui khi cùng cho cá ăn tại ao cá Bác Hồ (các anh hô khẩu hiệu "chọn cá tôm" có vui không?)
Locliec rất ấn tượng khi ngắm bức ảnh Tổng thống Obama tươi cười cùng Chủ tịch nước Trần Đại Quang đứng dưới tượng Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch (11h). Sau đó (lúc 12h) ông Obama lại cùng bà Kim Ngân Chủ tịch quốc hội đi thăm khu di tích Nhà sàn Bác Hồ và cùng cho cá ăn tại ao cá Bác Hồ. Điều này càng đặc biệt có ý nghĩa vào thời điểm kỷ niệm 126 năm ngày sinh nhật Bác vừa qua được mấy ngày.

Nhân đây, xin chép lại một vài tư liệu lịch sử qua các cuộc trò chuyện của Người với những chính khách, nhà báo, các nhà hoạt động tôn giáo quốc tế. Các tư liệu này cho thấy Bác đã từng nói đến chuyện “trải thảm đỏ”, “tặng hoa”, và “mời trà” các Tổng thống Hoa Kỳ, vào cái thời mà hai nước Việt Mỹ còn là “cựu thù”:  
Ngày 11-11-1965, trong lần tiếp giáo sư George La Pira, phái viên của Chính phủ Italia là trung gian vận động đàm phán Việt Nam và Mỹ, Bác Hồ nói:
Chúng tôi sẵn sàng rải thảm đỏ và rắc hoa cho Mỹ rút. Nhưng nếu Mỹ không rút thì phải đánh đuổi Mỹ đi. Chúng tôi và nhân dân chúng tôi sẵn sàng nói chuyện với nhà cầm quyền Mỹ và nhân dân Mỹ. Nhưng với Johnson và Mac Namara thì hoặc là trải thảm đỏ, hoặc là đá đít ra khỏi cửa”.
Ngày 4-7-1966, J. Sainteny , người Pháp (từng đại diện cho phía Pháp ký bản Hiệp định sơ bộ này 6-3-1946 với Bác Hồ) đến Hà Nội thăm dò khả năng về giải pháp chính trị cho cuộc chiến tranh Việt Nam.
Giữa cuộc nói chuyện giữa J. Sainteny và Phạm Văn Đồng, Bác Hồ bỗng xuất hiện, tươi cười bắt tay khách, Người nói: "Tôi biết ông ở đây, nhưng tôi không đợi đến cuộc viếng thăm chính thức ngày mai nên đến thăm ông".
Người hỏi thăm sức khoẻ ông Sainteny, gửi lời thăm bà Sainteny và các con của ông phải ở lại Phnôm Pênh vì Mỹ đang ném bom Hà Nội.
Trước lúc lui chân, Người nói thêm: “Nếu ông có gặp người Mỹ, ông hãy nói cho họ rằng chúng tôi không sợ Mỹ, chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng, dù có phải hy sinh tất cả. Mỹ rút đi thì mọi việc sẽ được giải quyết. Nếu họ muốn, chúng tôi có thể mang hoa tặng họ. Nhưng chừng nào còn một tên lính Mỹ trên đất nước chúng tôi, chúng tôi còn tiếp tục chiến đấu.
Năm giờ chiều hôm sau, J. Sainteny được Bác Hồ tiếp chính thức tại Phủ Chủ tịch . Ông Sainteny trao cho Người bức thư của tướng De Gaulle, Tổng thống Cộng hoà Pháp và bày tỏ những tình cảm kính trọng đối với Người. Vào cuối cuộc nói chuyện, Bác nói về nguyện vọng hoà bình của nhân dân ta và khả năng đi tới một giải pháp thương lượng. Người nói tiếp: "Chỉ có một cách đi tới giải pháp đó là Mỹ rút đi. Chúng tôi không muốn hạ nhục đối với họ, chúng tôi sẵn sàng đem nhạc và hoa tiễn  họ và mọi thứ khác họ thích; nhưng, ông biết đấy, tôi thích tiếng lóng của nước ông: “qu’ils foutent le camp!" (Thì họ hãy cút đi.!).
Ngày 7 tháng 1 năm 1967, hai nhà báo Mỹ là các ông H.S.Ashmore (chủ bút tờ Nhật báo Arkalsas ) và W C.Baggs (chủ bút tờ Tin Miami) thuộc Trung tâm nghiên cứu các thể chế dân chủ (CSD) đến Hà Nội. Cùng đi là ông Do Luis Quintanila người Mêxico, giáo sư, nhà văn, nhà báo và đã từng là đại sứ tại Mát-xcơ-va và Washington. Bộ Ngoại giao Mỹ đồng ý để hai ông nhà báo Mỹ sang Hà Nội, với yêu cầu hai ông tìm hiểu thái độ của Hà Nội về một số vấn đề mà họ quan tâm, kể cả vấn đề những phi công Mỹ bị bắt ở miền Bắc Việt Nam.
Trong cuộc nói chuyện với các nhà báo này, Bác Hồ nói:
Tôi kính trọng nhân dân Mỹ. Nhân dân Mỹ là những người thông minh, là những người yêu hoà bình và dân chủ. Lính Mỹ hiện nay đang bị đày sang đây để đi giết người và để giết người. Nhưng nếu họ đến đây giúp đỡ chúng tôi như những nhà kỹ thuật thì chúng tôi rất hoan nghênh họ như những người anh em. Còn bây giờ họ đến đây để giết người và để bị bắn chết. Đó là sự sỉ nhục. 
Đối với các ông, các ông khó mà tin được rằng tôi lấy làm đau lòng không những khi nhân dân Việt Nam bị giết hại mà tôi cũng rất buồn phiền khi lính Mỹ bị giết. Tôi thông cảm nỗi đau buồn của cha mẹ họ. Vì vậy chúng tôi nói với nhân dân chúng tôi rằng họ phải sẵn sàng hoan nghênh nhân dân Mỹ không phải khi họ đến như hiện nay với những người lính mang vũ khí - nhưng khi họ đến một lần nữa trong tương lai để giúp đỡ xây dựng lại đất nước chúng ta.
Nếu điều đó tỏ ra xa lạ với các ông thì các ông hãy nhìn lại mối quan hệ giữa chúng tôi với Pháp. Khi chiến tranh chấm dứt ở Điện Biên Phủ, mối quan hệ chặt chẽ và thân thiết đã phát triển giữa Paris và Hà Nội. Người Pháp hiện nay là người bạn nhiệt tình của chúng tôi và chúng tôi cũng tự hào có hương vị Pháp trong nền văn hoá hiện tại của chúng tôi.
Các ông hãy tin tôi khi tôi nói rằng tôi sẽ rất sung sướng được đón tiếp Tổng thống Mỹ đến đây một cách hoà bình. Chúng tôi chìa bàn tay hữu nghị ra với bất kỳ quốc gia nào thừa nhận Việt Nam là một nước tự do và độc lập.
Năm ngày sau, ngày  12 tháng 1 năm 1967, Bác Hồ lại tiếp đoàn "Những người tình nguyên vì hoà bình” gồm Mục sư người Mỹ A.J Muste, mục sư Đạo Do Thái Rabbi Abraham L. Feinberg và linh mục Anh giáo Ambrose Reeves.
Các vị khách kể lại đã đi thăm nhiều nơi của Hà Nội bị máy bay Mỹ đánh phá. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: 
"Tổng thống Johnson đã nói rằng ông ta sẽ gặp bất cứ ai, ở đâu và bất cứ lúc nào để nói chuyện hoà bình. Tôi xin mời ông Johnson đến Hà Nội như là khách của chúng tôi, ông hãy đến với vợ và con gái, người thư ký, người bác sĩ và người đầu bếp của mình. Nhưng đừng mang theo tướng lĩnh và đô đốc! Tôi xin bảo đảm rằng Tổng thống sẽ an toàn tuyệt đối".

Entry này cũng là lời chào mừng của blog Locliec nhân sự kiện ông Obama thăm Việt Nam. Hãy đến với vợ và con gái, người thư ký, người bác sĩ và người đầu bếp của mình, ông sẽ luôn được chào đón!

----------------



Thứ Tư, 18 tháng 5, 2016

Bài ca Hồ Chí Minh (the Ballad of Ho Chi Minh)






----------

Nhân dịp 19-5, ngày sinh nhật Bác, chúng ta hãy cùng nghe lại bài ca bất hủ The Ballad of Ho Chi Minh của nhà soạn nhạc, nghệ sĩ Ewan MacColl:



Tác giả bài hát là nghệ sĩ nổi tiếng người Anh gốc Scotland, tên khai sinh là Jams (Jimmie) Henry Miller. Ewan MacColl sinh ngày 25-1-1925 tại Salfont, Lancashire và mất ngày 20-10-1989. 
Nghệ sĩ Ewan MacColl

Bài hát mang phong cách nhạc truyền thống Ireland này được Ewan MacColl sáng tác và trình diễn lần đầu tại các thành phố của nước Anh vào những năm 1954, 1955. Sau đó, vào những năm cuối thập niên 1960 nó được biểu diễn rộng rãi tại các nước châu Âu như một ca khúc điển hình trong phong trào phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Bài hát cũng được ca sĩ người Mỹ Pete Seeger, anh vợ của Ewan MacColl phổ biến trong các phong trào phản chiến sôi động tại nước Mỹ.
Năm 1967, Ewan MacColl và vợ là Peggy Seeger đã biểu diễn bài hát này tại “Đại hội Liên hoan quốc tế ca hát phản kháng chiến tranh” diễn ra ở La Habana (Cuba). Sau đó, bản nhạc được tặng lại cho đoàn đại biểu Việt Nam mà ca sĩ Quang Hưng là đại diện, ngoài bìa bản nhạc còn có 4 câu thơ đề từ:
“In life there are things can’t change
The bird not subjugated ever 
These people live forever with time
Ho Chi Minh!
Dịch:
“Trên đời có những điều không thể đổi thay
Có những loài chim không khuất phục bao giờ
Có những con người sống mãi với thời gian
Hồ Chí  Minh!”.
Nhạc sĩ Nguyễn Phú Ân là người đặt lời Việt cho bài hát (chi tiết này nay ít người biết đến) và ca sĩ Quang Hưng là người đầu tiên hát bài hát này với lời Việt, cũng vào ngày sinh nhật Bác, 19-5-1967 tại Nhà hát lớn thành phố Hà Nội.
Ca sĩ Quang Hưng và nhạc sĩ Nguyễn Phú Ân, người đặt lời Việt cho bài hát
Video dưới đây là bài hát do ca sĩ Quang Hưng trình bày:

Ca khúc The Ballad of Ho Chi Minh còn được phổ biến bằng nhiều thứ tiếng khác, xin trân trọng giới thiệu một số phiên bản dưới đây:

Bản gốc tiếng Anh của Ewan MacColl:




Bản tiếng Việt của nhạc sĩ Nguyễn Phú Ân:


Miền biển Đông, xa tắp nơi chân trời
Người dân ở đó lầm than đói nghèo
Từ đau thương Người đi khắp năm châu
Lòng tin mặt trời chân lý sáng soi
Rọi chiếu tới dân mình

Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh!
Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh!

Vượt trùng sóng người đi khắp phương trời
Luyện tôi ý chí lòng nuôi căm thù
Hồ Chí Minh ngày đêm xót thương dân 
tộc nô lệ vì đế quốc dã man
Giày xéo đất nước mình

giày xéo Đông Dương này, 
tàn sát bao con người

Từng giờ cháy lửa cách mạng lan tràn
Từ rừng Việt Bắc vào đến Tháp Mười
Hồ Chí Minh niềm tin đấu tranh cho 
tự do điệp trùng đội ngũ lớn lên
Ngày thêm mỗi trưởng thành 

một ý chí tuyệt vời, 
bằng chiến công diệt thù

Lòng thành kính toàn dân gọi Cha già
Vì Người đã sống để cho muôn người
Hồ Chí Minh mùa xuân chứa chan muôn niềm tin
Người từ chân lý sinh ra
Vì thế giới hoà bình 

Người hiến dâng đời mình
Người hiến dâng đời mình
Người hiến dâng đời mình

Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh!
Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh!

 

Phiên bản tiếng Ý của Bruno Pianta:


BALLATA DI HO CHI MINH

Tanto lontano in estremo oriente
Oltre il Laos e il suo confin
Vive l'uomo che è padre della gente vietnamita
Il suo nome è Ho-Chi-Minh 

Ho Ho Ho-Chi-Minh 
Ho Ho Ho-Chi-Minh

Ho-Chi-Minh andò sul mare
La vita si guadagnò così
Il lavoro più duro fu quel che lo educò
Lo sfruttamento fu l'a b c

Ho Ho Ho-Chi-Minh 
Ho Ho Ho-Chi-Minh

Ho-Chi-Minh ritornò in patria
Fame e miseria vide allor
Vide i suoi fratelli ridotti come schiavi
E dappertutto l'invasor

Ho Ho Ho-Chi-Minh 
Ho Ho Ho-Chi-Minh

Ho-chi-minh se ne andò in montagna
Quaranta eroi lo seguiron là
A combattere contro l'invasore eran decisi
Per la morte o la libertà

Ho Ho Ho-Chi-Minh 
Ho Ho Ho-Chi-Minh

Eran quaranta poi furon cento
Poi centomila con Ho-Chi-Minh
I francesi poi furono cacciati con la lotta
Dai soldati del Viet-Minh

Ho Ho Ho-Chi-Minh 
Ho Ho Ho-Chi-Minh

Ogni soldato è un contadino
Ieri sera a zappare andò
Stamattina si butta la mitragliatrice in spalla
E combatte per lo zio Ho

Ho Ho Ho-Chi-Minh 
Ho Ho Ho-Chi-Minh

Oggi il nemico è ancor più forte
Ma sconfiggere non ci può
Combattiamo per la rivoluzione popolare
Per il Vietnam e lo zio Ho

Ho Ho Ho-Chi-Minh 
Ho Ho Ho-Chi-Minh

 

Phiên bản tiếng Pháp của Francesca Solleville:

 

LA BALLADE DE HO CHI MINH

Tout là-bas au soleil levant
du côté de la mer de Chine
Il y a un homme que tout un peuple révère comme un père, 
et cet homme était Ho-Chi-Minh.

Ho Ho Ho Chi Minh, 
Ho Ho Ho Chi Minh.

Ceux du Nord e ceux du Delta
ceux des montagnes et ceux des plaines
mènent le meme combat pour chercher des fusils
jeunes et vieux tous units derrière Ho Chi Minh.

Ho Ho Ho Chi Minh, 
Ho Ho Ho Chi Minh.

Ho Chi Minh partit vers son temps
dans la marine pendant trois ans
là, les privation les humiliation l'exploitation
ont été son pain quotidien.

Ho Ho Ho Chi Minh, 
Ho Ho Ho Chi Minh.

Quand il fut du retour au pays
il fallait voir ce qu'il a vu
misère et famine et des soldats étrangers
terrorisant son pauvre peuple d'Indochine.

Ho Ho Ho Chi Minh, 
Ho Ho Ho Chi Minh.

Ho Chi Minh et une poignée d'hommes
s'en sont allés dans les montagnes
au nom de leur frères terreur de l'ombre
alors se jurèrent de chasser tous les aggresseurs.

Ho Ho Ho Chi Minh, 
Ho Ho Ho Chi Minh.

Une poignée et puis des centaines
et les centaines sont des milliers
et grandit l'armée qui va libérer toute l'Indochine
la vaillante armée du Viet Minh.

Ho Ho Ho Chi Minh, 
Ho Ho Ho Chi Minh.

Soldat le jour, paysan la nuit
le soir venu c'est un grand parcours
au matin il passe la bretelle de son fusil
à l'épaule, telle est l'armée de l'oncle Ho.

Ho Ho Ho Chi Minh, 
Ho Ho Ho Chi Minh.

Des montagnes et de la jungle
des hauts plateaux et des rizières
les hommes et les femmes sont commes des graines
dans tout le Viêt-Nam la victoire est la liberté.

Ho Ho Ho Chi Minh, 
Ho Ho Ho Chi Minh.

Et du Nord jusqu' au bout du Delta
l'armée avance, l'armée Viet Minh
et le vent se tait long les bords du cap d'Indochine
liberté fête et Ho Chi Minh.

Ho Ho Ho Chi Minh, Ho Ho Ho Chi Minh.
Ho Ho Ho Chi Minh, Ho Ho Ho Chi Minh.

 

Phiên bản tiếng Tây Ban Nha của Rolando Alarcón:

BALADA DE HO CHI MINH

En Saigón la montaña ruge
y los valles en silencio están
porque el joven y el viejo campesino
luchan por la libertad para su Vietnam.

Ho, Ho, Ho Chi Minh
Ho, Ho, Ho Chi Minh

Ho Chi Minh era un marinero
que una tarde regresó feliz
y encontró que su pueblo estaba triste;
triste no era la esperanza de Ho Chi Minh.

Ho, Ho, Ho Chi Minh
Ho, Ho, Ho Chi Minh

Ho Chi Minh se fue a la montaña
y su pueblo también marchó
y soñaba que su tierra era libre,
contra el enemigo y contra el invasor.

Ho, Ho, Ho Chi Minh
Ho, Ho, Ho Chi Minh

Y creció como un mar gigante
cien y miles junto a Ho Chi Minh.
Florecían soldados para el pueblo,
para dar la libertad, para el Viet Minh.

Ho, Ho, Ho Chi Minh
Ho, Ho, Ho Chi Minh

"Libertad" gritan las banderas
y en la selva se oye una canción:
es el pueblo que marcha a la victoria,
paz y libertad serán para el Vietnam.

Ho, Ho, Ho Chi Minh
Ho, Ho, Ho Chi Minh
 
Phiên bản tiếng Thụy Điển của nhóm Knutna Nävar:

BALLADEN OM HO CHI MINH

Långt borta, bortom oceanen.
Långt bortom havets östra strand
fanns en man som var ledare för folket i Vietnam
och hans namn det var Ho Chi Minh

Ho, Ho, Ho Chi Minh
Ho, Ho, Ho Chi Minh

Ho Chi Minh var sjöman på haven
han levde länge borta från sitt land
Han såg imperialismens härjningar
utsugning och förtryck

Ho, Ho, Ho Chi Minh
Ho, Ho, Ho Chi Minh

Ho Chi Minh studerade Marx och Lenin
byggde upp Partiet som visar vägen fram
Dom blev hjältar i det vietnamesiska folkets kamp för ett enat och fritt Vietnam.

Ho, Ho, Ho Chi Minh
Ho, Ho, Ho Chi Minh

Fjorton män blev till hundra
blev hundratusen och Ho Chi Minh
han ledde och enade Vietnams starka folkarmé
för landets befrielse

Ho, Ho, Ho Chi Minh
Ho, Ho, Ho Chi Minh

Varje bonde är en soldat
när kvällen kommer tar han sitt gevär
Om dagen jobbar han på fälten
detta är folkets motståndskraft

Ho, Ho, Ho Chi Minh
Ho, Ho, Ho Chi Minh

Från alla berg och djungler
från risfälten och slätterna
marcherar män och kvinnor i befrielsearmén
Folket Segrar där de drar fram 

Ho, Ho, Ho Chi Minh
Ho, Ho, Ho Chi Minh
 
Phiên bản tiếng Phần Lan của Elvi Sinervo:

BALLADI HO TŠI MINHISTÄ

Vuorten tuolla puolen asuu
kaukana kansa Vietnamin
Eli siellä mies
rakastama Indokiinan kansan
ja se mies oli Ho Tši Minh
Ho Ho Ho Tši Minh

Kiersi maita länttä, itää
maailman tunsi, tiesi tään
että valta on sillä
jolla raha on ja armeijat
vaan kansaa riistetään
Ho Ho Ho Tši Minh

Synnyinmaahan saapui jälleen
aika kun vaihtui. Mutta ei
kansa saanutkaan vapautta
Uudet sortajat sai
ja se kaiken toivon vei
Ho Ho Ho Tši Minh

Kotkat lentää korkealla
Vuorilla sissiarmeijaa
johti Ho Tši Minh
Aika oli tullut Vietnamin
jo vieras sortaja karkoittaa
Ho Ho Ho Tši Minh

Lentoon nousee vuorten kotkat
taisteluun kansa Vietnamin
Tuuli kuljettaa
vapauden viestin kautta maan
On kohta saapuva Ho Tši Minh
Ho Ho Ho Tši Minh
Ho Ho Ho Tši Minh

Phiên bản tiếng Nhật của Hidaka Yoshi:
 

ホーチミンのバラード 

とおい海のむこう 
東の海のむこう
インド・シナの父とよばれる
その人の名はホーチミン

山に デルタに 
若者も年よりも
自由のためにたたかう
ホーチミンとともに

わかいホーチミン 
船に乗り海をこえ
国をでてまなんだことが
彼も未来をきめた

彼が帰ってきて 
そこに見たものは
うえと貧乏と他国の兵士
おもい靴音ひびく

ひとに呼びかけて 
山にのぼった
解放軍がそこにうまれた
彼はきたえられた

夕べにくわをもち 
朝にはライフル
兵士たちはみんな百姓
それがホーチミンの兵士

平野にジャングルに 
山にも海辺にも
インド・シナの兵士はすすむ
男も女もすすむ

平和と自由と 
そしてホーチミン
インド・シナの旗をなびかせ
ベトミンの兵士はすすむ

------