Thứ Năm, 29 tháng 9, 2016

Hai câu hỏi của nhà văn Nguyễn Văn Thọ




------
Locliec xin trân trọng giới thiệu hai bài viết và cũng là hai câu hỏi lớn của nhà văn Nguyễn Văn Thọ, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Anh Thọ là một người Hà Nội gốc và cũng là một cựu chiến binh thời chống Mỹ, nay sinh sống và làm việc tại Đức. Bài chép về từ blog Giao .

Nhà văn Nguyễn Văn Thọ và họa sĩ Thành Chương, ảnh do Trần Đăng Khoa chụp


1. Vì sao phải thù hận?


Tôi là người lính từng tham gia chiến tranh, tự nguyện và hết lòng. Nhiệm vụ của người lính; trách nhiệm với đồng đội, đơn vị, tổ quốc; danh dự cá nhân, gia đình đã buộc tôi gắn kết với chiến tranh 12 năm.
Tôi có sự căm thù không? Không! Chúng tôi biết gì người Mỹ mà căm thù họ! Nhưng người Mỹ đã tới.
Khởi đầu của cuộc chiến, Mỹ ném bom miền Bắc và tuyên bố: “Đánh cho Việt Nam quay lại thời đại đồ đá”. Hãy hình dung, khi một con người bị sỉ nhục như thế, nhất là con người ấy yêu quê hương, yêu từng viên đá, gốc cây Hà Nội, sẽ hành xử ra sao nhất là khi anh ta trực tiếp nhìn rõ bom của người Mỹ ném xuống mảnh đất thân yêu, giết chết bao con người chưa một lần gây hấn với họ. Họ, người Mỹ đã ném chiến tranh xuống quê hương của tôi, của em, của ta và của chúng ta, khi Hà Nội là trái tim của cả nước.
Và khi ấy, hỏi ai lại cam tâm ngồi yên. Và chúng tôi đã ra trận chiến đấu với chỉ lòng dũng cảm vô song, bởi nếu không có lòng dũng cảm, sẽ không ai dám chống lại người Mỹ, khi thực sự nhìn chúng bay, rải thảm cái chết...
Chúng tôi phải đánh nhau với súng ống cổ lỗ, từ súng máy 12, 7 ly tới pháo 57, 100 ly, đều là loại súng ống của đại chiến II. Kể cả tận khi trang bị tên lửa thì Sam II cũng là loại tên lửa cổ lỗ. Trong khi đó, người Mỹ dùng tất cả sức mạnh của hải quân của không quân từ B52 tới F, A các loại siêu thanh, đều là phương tiện hiện đại nhất.
Thế hệ chúng tôi đã kế tục truyền thống chống Nguyên Mông của tiền nhân, thay vì thích trên cánh tay, chúng tôi thích hai từ Sát Thát vào tận trái tim từng người ra trận. Lứa Hà Nội khi ấy đều đa số có học, ý thức rất rõ việc chúng tôi đang làm, đang chiến đấu, theo đuổi. Chúng tôi đã đánh hàng trăm trận, bất kể khi người Mỹ với sức mạnh quân sự tưởng như ăn sống nuốt tươi đối thủ trên không và trên biển, trên bộ. Nhưng sự áp đảo của cả đạo quân gồm không quân hải quân, xe tăng và bộ binh trang bị tận răng, no đủ như ở nhà, vẫn không làm chúng tôi run sợ. Mãi tới năm 1971 họ mới nhận ra, khi anh làm nhục một dân tộc, tức là các anh đã khơi dậy một cơn giận dữ bất tận của một dân tộc.
Khi những hòa ước được ký kết, người Mỹ hạn chế và chấm dứt ném bom miền Bắc chúng tôi lại vào Nam chiến đấu. Hỏi tôi có hận thù gì với anh em binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa không? Không! Tôi không có hận thù gì với anh em binh sĩ miền Nam, nhưng tôi không muốn người Mỹ và tất cả binh lính nước ngoài chà đạp lên Tổ quốc tôi. Khi người Mỹ sát cánh với họ chà đạp 60 vạn gót giầy trên quê hương miền Nam, tôi đã một lần nữa vào Nam chiến đấu.
Tôi không có ân oán gì về cá nhân với anh em binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa cả, nhưng chúng tôi, những con người tường các quy luật của chiến tranh, cả sử nước nhà và lịch sử thế giới, ý thức rất rõ và cụ thể từng trận chiến rằng: Chiến tranh chỉ chấm dứt khi có một bên thắng bên thua, vì đất nước Việt Nam không thể chia cắt. Do vậy, tôi và bao người đã chiến đấu cho cánh quân bên chúng tôi - bộ đội miền Bắc, tới giọt máu, tới sức lực cuối cùng, nhằm chiến thắng để chấm dứt chiến tranh chứ không phải giải quyết thù hận. Ngày 30/4/1975, trước khi tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, hàng vạn vạn binh sĩ chúng tôi đều muốn sống, cầu nguyện được là kẻ sống sót cuối cùng sau cuộc chiến; song không ai bảo đảm rằng, họ có thể chắc chắn sẽ còn lại trong trận chiến cuối ấy.
Cho tới hôm nay khi ngồi viết những dòng này tôi nhận ra, cuộc chiến ở Việt Nam đã gây ra một vết thương rất sâu và rất dài cho dân tộc Việt Nam. Hàng triệu người dân đã bỏ mình. Hàng triệu gia đình đã mất cha, mất chồng và mất con trên trận mạc. Cũng do chiến tranh để lại, hàng triệu người đã bỏ nước ra đi, ly tán và mất mát đau khổ trên biển xanh, trong rừng rậm, để lại một vết hận không nhỏ trong một bộ phận không nhỏ những gia đình phía chiến tuyến bên kia. Đó là niềm đau vô cùng lớn không chỉ riêng ai khi họ còn yêu đất nước.
Sự mất mát của thế hệ chúng tôi cả hai bên, sự mất mát của cả dân tộc tới ngày 30/4 khi đất nước yên súng, giang sơn thu về một cõi là sự đòi hỏi tất yếu của lịch sử, của dân tộc nhưng đó cũng đã phải trả với giá quá đắt. Và một câu hỏi luôn luôn làm tôi đau nhức là tại sao cứ phải căm thù khi tất cả đều là nòi giống Việt, khi mà xu hướng chung của nhân loại tiến bộ là hòa bình cho tất cả các dân tộc, cởi bỏ tất cả nỗi niềm và xóa đi đau đớn giận hờn với chính nỗ lực của từng con người chúng ta.
Rồi đây thế hệ chúng tôi cả hai phía sẽ theo quy luật sinh bệnh lão tử, rồi đây đất nước này dành cho và chỉ là cho các thế hệ sau chúng tôi; chúng không liên quan gì tới những hận thù trận mạc bấy nay và cười diễu cha anh nếu còn cố chấp. Vậy lý do gì để con người Việt Nam vẫn chia tách và hận thù về những điều đã qua mà không thực sự chung tay hàn gắn, nếu thực sự yêu thương đất nước và dân tộc này?
Nguyễn Văn Thọ

http://vnexpress.net/tin-tuc/goc-nhin/vi-sao-phai-thu-han-3203302.html

-------


Đỗ xe máy để Thành Chương từ bên kia đường sang, trước cửa báo Nhân Dân, bên kia đường, cửa một nhà sang trọng cao ngất. Nhà có đường hầm đi xuống. Lập tức một tay bảo vệ to con bước ra:
- Đề nghi bác không đỗ xe ở đây, lấy lối lên xuống cho xe vào nhà.
Mình chả nói gì. Dũng Tí nhẹ nhàng , bọn tớ đỗ tí đón người. Đi ngay.
Bảo vệ lừ lừ mắt.
Mình lộn tiết: 
-Vỉa hè của nhà cậu hả? Đường của nhà cậu hả? Tất cả các con đường vỉa hè tụi nhà giầu chiếm hết đều là của nhà tụi chủ cậu hả?
Tay bảo vệ nhìn mình mắt tức lắm. Nhưng có lẽ biết mặt hàng tụi này không vừa nên bỏ đi.
Rồi ba thằng đi. Nghĩ mà buồn. Cái thằng cha ấy cũng là dân áo ngắn, ăn cơm chúa múa tối ngày nghĩ cũng tội. Nó được tụi nhà giầu thuê để làm việc ấy.
Tất cả hầu như nhiều nhà cửa Hà Nội hầu như xưa của nhà nước, tập thể bây giờ đều thuộc về tư bản hết. Quanh Bách hóa tổng hợp, tất cả các cơ sở của Nhà máy, hàng trăm ngôi nhà cơ quan 5 tổng công ty bán buôn, bán lẻ, nhưng nơi thuộc về Sở hữu nhà nước nhà máy, công xưởng nữa, như Nhà máy rượu, Nhà máy dệt mùng 8.3, Cơ khí Trần Hưng Đạo, Trung Quy Mô, Xí nghiệp Xe điện...tất cả những mảnh đất vàng béo bở nhất trong phút chốc chục năm nay đều thuộc về cá nhân, tụi tư bản béo mập. Và trước cửa tất cả các tòa nhà ấy đều có đám anh em lam lũ làm tay sai mẫn cán cho chúng. Không còn chỗ nào thuộc về nhân dân cả.
Như thế còn hơn cả Đức và Pháp cái nền móng đều tan nát hết chỉ còn đỉnh phất phơ lá cờ CNXH - Tư liệu sản xuất, tài sản thuộc về Nhân dân.
Xã hội hình như mất hết cái cũ, nền tảng như nước Pháp, Đức...Nhưng ở Đức, Pháp không thằng nào dám đuổi tao đứng ở đó nếu không có biển cấm đỗ. Và biển cấm đỗ là do quy hoạch giao thông thành phố. Ở hơ, thế tất cả chúng ta bây giờ làm công cho ai, phục vụ ai?
Buồn, buồn mãi, cay đắng. 
Đèo Thành Chương đi phố. Im lặng không nói câu nào...cứ hoai hoải lòng tràn ngập đắng cay, nhớ cả tuổi thanh xuân hai đứa....Nhớ bao năm tháng mình và bao trai Hà Nội dám chết cho một xã hội công bằng cho CNXH. Không bao giờ ân hận vì cả đời sẵn sành chết cho dân tộc này cho Thống nhất đất nước. Còn cho công bằng bác ái ư? Nó ở đâu?
Và tụi béo mập kia chúng nó có tài hơn mình không? Sao tụi nó phắt nhiên giầu thế? Giá như tụi nó giỏi như ông sáng tạo ra mạng, ra quả táo, ra Fb hay ra máy móc mới cho nhân loại thì đã đành. VN chưa có ai như thế cả song tụi nó giàu lắm lắm: Bây giờ khắp mọi nơi chúng nó đều có quyền đuổi mình. 
Vừa rồi lên Yên Bái hỏi dân đen, ai cũng bảo:
- Chả tin các ông nữa. Ông bí thư kia chết rồi. Trời xét, trời phán còn bây giờ đâu cũng Nhà Trà, Quán Trà, đất Trà, vườn Trà Là...Ông em ruột vừa cử giữ chức to nơi nắm nhiều quyền lực tài sản tài nguyên có mảnh đất to vật vã ngay trong thành phố thì chúng tôi tin ai? Ông là cán bộ Trung ương hả? 
- Không, tôi cũng là dân đen?- Mình bảo
- Dân đen sao quan tâm tới Đảng? Không tin!
Ôi cay đắng. Nước mắt ứa ra. Chương hỏi, sao thế? Sao mày khóc? 
-Không, tao khóc đâu.
Cay Đắng!
Xã hội bây giờ của ai? Thuộc về ai?


https://www.facebook.com/tho.nguyenvan.737/posts/10206797288362138

-----



Thứ Hai, 26 tháng 9, 2016

Tư liệu: Diễn văn do cụ Huỳnh Thúc Kháng đọc ngày 1-10-1928 tại Viện dân biểu Trung kỳ



Dẫn:
Chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng, hiệu Mính Viên, tự Giới Sanh, sinh tháng 10 năm Bính Tý (1876) tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông (nay là xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam). Năm 1904, cụ cùng các sĩ phu yêu nước nổi tiếng đương thời như Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Lương Văn Can… khởi xướng phong trào Duy Tân, tích cực vận động, tuyên truyền trong nhân dân tinh thần yêu nước, đấu tranh đòi chính quyền thực dân thực hiện cải cách với tinh thần “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” nhằm mang lại lợi ích thiết thực cho người dân… Năm 1908 cụ bị thực dân Pháp bắt đày đi Côn Đảo.
Cách mạng Tháng Tám thành công, cụ Huỳnh Thúc Kháng được Cụ Hồ mời tham gia Chính phủ lâm thời với cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Đầu năm 1946, cụ làm Chủ tịch hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam. Tháng 5-1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Pháp, cụ được giao giữ chức vụ Quyền Chủ tịch nước. Với trọng trách được giao, cụ vừa góp phần tích cực xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng, vừa đấu tranh làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực phản động.
Sau thời gian 13 năm bị thực dân Pháp đầy đi Côn Đảo (1908-1921), năm 1926cụ Huỳnh ra ứng cử nghị viên Viện Dân biểu Trung Kỳ trúng cử với số phiếu 624 trên tổng số 644 phiếu cử triđược bầu làm Viện trưởng. Trên cương vị này, cụ Huỳnh đã nhiều lần đấu tranh chỉ trích những chính sách hà khắc của chính quyền thực dân về việc nhũng lạm, sưu thuế, giáo dục đồng thời đặt ra những yêu cầu mở rộng quyền tự chủ cho dân tộc.
Tất nhiên, những đề nghị cải cách của cụ Huỳnh đã vấp phải sự chống đối quyết liệt của chính quyền thực dân, đặc biệt là từ phía Jabouille, Khâm sứ Trung Kỳ. Ngày 2-10-1928, cụ Huỳnh đệ đơn từ chức chức Viện trưởng Viện Dân biểu Trung kỳ.
Ngày 1-10 năm nay, Lễ kỷ niệm cấp quốc gia 140 năm ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng, Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa sẽ được Nhà nước ta long trọng tổ chức tại Quảng Nam, quê hương cụ. Nhân dịp này, xin trân trọng giới thiệu Bài diễn văn do cụ Huỳnh Thúc Kháng đọc vào buổi chiều ngày 1-10-1928 tại Viện dân biểu Trung kỳ, một ngày trước khi từ chức Viện trưởng.
Tư liệu chép lại từ bản số hóa, chụp lại bản in tại Huế, năm 1929.
------









Thứ Tư, 21 tháng 9, 2016

Cố họa sĩ Vũ Cao Đàm và bức tượng Bác Hồ năm 1946





------

Cố họa sĩ Vũ Cao Đàm (1908-2000) là sinh viên khóa II của Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương. Năm 1931, ông tốt nghiệp ngành điêu khắc với kết quả xuất sắc và sau đó được nhận học bổng tu nghiệp tại Bảo tàng Louvre. Ông sang Pháp cùng với các họa sĩ Lê Phổ, Mai Trung Thứ và Lê Thị Lựu.

Vũ Cao Đàm (giữa) cùng Lê Phổ, Mai Trung Thứ tại Pháp
Ngày 31-5-1946, Bác Hồ bắt đầu thực hiện chuyến thăm chính thức nước Cộng hòa Pháp trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham dự Hội nghị Fontainebleau. Chiều ngày 22-6-1946, Bác đặt chân xuống sân bay Bourget với tư cách là thượng khách của nước Pháp, làm lễ chào cờ và duyệt đội tiêu binh. 
Những ngày tiếp theo, kiều bào ta ở Pháp hân hoan tổ chức chào đón Phái đoàn và vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Các đại biểu trí thức đều mong được tiếp xúc với Bác và tìm hiểu thêm về tình hình đất nước.
Ngày 1-7-1946, họa sĩ Vũ Cao Đàm đến thăm Bác và xin phép được chụp ảnh và nặn tượng Bác. Trong cuộc gặp ấy, Bác Hồ đã tặng họa sĩ và một tấm huy hiệu của Người.
Tấm huy hiệu đó đã nhanh chóng được họa sĩ nhân ra thành những bức phù điêu đồng có đường kính 6,8cm, dày 3mm. Sau đó, những bức phù điêu này lại được họa sĩ trao lại cho Phái đoàn để dùng làm quà tặng chính thức trong thời gian công cán ở Pháp.

Phù điêu chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh 1946, đúc đồng, 68mm, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh

Ngoài  phù điêu này còn có tấm ảnh chân dung do họa sĩ Vũ Cao Đàm chụp Bác năm 1946, mặt sau có dòng chữ do chính tay Bác ký tặng: “Tặng vợ chồng chú Đàm và các cháu - Thân ái. Hồ Chí Minh”. Tấm ảnh này cũng được họa sĩ gửi tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh thông qua người em trai ông là dược sĩ Vũ Công Thuyết vào năm 1976.
Cũng trong thời gian Bác ở Pháp, họa sĩ còn thực hiện một bức tượng chân dung Người bằng chất liệu thạch cao.  
Năm 1950, khi phải dời chỗ ở  xuống miền Nam nước Pháp, nơi có khí hậu phù hợp với việc điều trị bệnh phổi, họa sĩ đã nhờ gia đình một nông dân Pháp, ở thành phố Béziers, tỉnh Hérault, cất giữ bức tượng. Mười bẩy năm sau, khi vợ chồng họa sĩ  trở lại tìm bức tượng, người nông dân Pháp kia, bây giờ đã già yếu và gần như mất trí nhớ, nhưng vẫn chỉ ra được nơi cất giấu bức tượng.
Năm 1996, để lưu giữ được lâu dài tác phẩm đặc biệt này, con gái họa sĩ là Yanick Vũ đã đưa bức tượng sang Tây Ban Nha để thực hiện việc chuyển thể chất liệu bức tượng từ thạch cao sang chất liệu đồng đỏ. Tổng thể, bức tượng nặng 35 kg, trong đó phần chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh được làm bằng đồng, cao 45,7 cm, và phần bệ bằng đá màu ghi đen, cao 11, 8cm.
Bức tượng này được giới nghiên cứu mỹ thuật đánh giá là tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, thể hiện được phong thái của vị lãnh tụ kính yêu trong thời điểm vận nước hết sức khó khăn cách đây vừa đúng 70 năm.
Chân dung Hồ Chí Minh 1946, tượng đồng, tác giả Vũ Cao Đàm
Năm 1998, gia đình họa sĩ Vũ Cao Đàm đã gửi bức tượng về trao tặng cho Bảo tàng Hồ Chí Minh. Đây là tác phẩm điêu khắc đầu tiên và duy nhất của một nghệ sĩ Việt kiều thực hiện tượng chân dung Bác trong chuyến Người thăm Pháp năm 1946.

Bức tượng Bác Hồ năm 1946 của họa sĩ - nhà điêu khắc Vũ Cao Đàm là một minh chứng cho tình yêu quê hương đất nước tấm lòng của hàng triệu kiều bào ở nước ngoài hướng về Tổ quốc.
------


Thứ Năm, 1 tháng 9, 2016

CHUYỆN THÁI BÁ TÂN TỌNG PHÂN VÀO MỒM VÕ VĂN TẠO




-----

Đám rân trủ ruồi bu, trong đó có tay “nhà báo” Võ Văn Tạo thường hô hào đòi quyền tự do biểu đạt còn gọi là tự do ngôn luận. Bản thân Tạo còn khoe trên RFA rằng y “nhận được lời mời của Ban tổ chức gồm có đài RFA, Article 19 và Đảng Việt Tân mời qua Singapore tham dự khóa huấn luyện phổ biến, giới thiệu phần mềm ứng dụng Storymaker. Nói chung nó cho phép biên tập ngay trên điện thoại và post lên đại chúng”. 
Thế nhưng khi ông Thái Bá Tân, một nhân vật quen thuộc của giới rân trủ, gần đây bỗng bày tỏ cảm xúc thực sự vui mừng vì đất nước đã đổi mới, đời sống người dân khá hơn xưa thì ngay lập tức giới rân trủ trong đó có Tạo bỗng lâm vào cơn choáng cấp tính. Thực ra những điều mà ông Tân phát biểu vừa rồi hoàn toàn thực tế và chẳng có gì là bất ngờ, nhưng lại làm cho đám rân chủ ruồi bu và Võ Văn Tạo tức hộc máu mồm, vì ông Tân nói không theo “định hướng” của lề trái.
Ban đầu Tạo cố tình “uốn nắn” cho Thái Bá Tân, rằng: “phải chăng Thái Bá Tân cũng là nạn nhân của an ninh khiến ông phải quay lại chĩa ngòi bút mình vào nhân dân, những người từng nhiệt tình kính trọng ông trước đây?”.
Trên RFA, Tạo bịa ra câu chuyện:
“Tôi xin kể câu chuyện mà tôi là người trong cuộc đó là vụ tháng Năm vừa rồi cá chết. Hôm mùng một tháng Năm cô em họ tôi là Hoàng Thị Minh Hồng, trước đây cô đi Nam cực thám hiểm hai lần cổ có thời gian làm đại sứ cho UNESCO và Trưởng đại diện cho Quỹ bảo vệ động vật hoang dã của thế giới.
Cô là người của công chúng cho nên khi ngày 1 tháng 5 cô xuất hiện ở cuộc biểu tình với tấm bảng đề là “con tôi cần nước sạch, không khí sạch, thực phẩm sạch, chính quyền sạch” Cái hình ảnh đó rất ấn tượng và không hiểu sao hai tuần sau, ngày 15 tháng 5 cô ấy xuất hiện với cái bảng “đả đảo Việt Tân”.
Nhiều người dự đoán cô bị sức ép hay có cái gì đấy. Tôi rất ngạc nhiên và gọi cô ấy nhưng rất khó liên lạc cho tới khi liên lạc được thì cô nói thật do bị sức ép của an ninh nên buộc lòng cổ phải làm việc ấy.
Cô kể hết sự tình ra là an ninh đã đe dọa cô ấy thông qua nhân viên của tổ chức cô ấy làm việc, đồng thời gửi e-mail nặc danh dọa giết cháu Giang là con của hai vợ chồng cô. Chúng còn biết cháu học ở trường nào nữa cho nên cô rất sợ cuối cùng đi đến việc làm dở như thế.”
Từ chuyện bịa đặt trên, Tạo "mớm lời" cho “hiện tượng Thái Bá Tân”: 
Có khả năng chứ không dám khẳng định: bác Thái Bá Tân cũng rơi vào tình trạng đó do có một cái ý mà bác nói “cảm ơn đảng, chính phủ qua cái việc chủ trương đổi mới” bác nói “quá nghèo mà được như thế này là tốt lắm rồi!” Tôi thấy nó giống như giọng lưỡi an ninh mà mỗi lần tiếp xúc làm việc với tôi cũng nói những câu như thế của dư luận viên và tôi không thể tin được đó là cái đầu hay cái cách của bác”
Thì đây, Thái Bá Tân trả lời:
CẢI CHÍNH
Tự nhiên thành “Hiện tượng Thái Bá Tân” mới lạ.
Chính thức và nghiêm túc nhé: Tôi không hề bị an ninh hay ai đó gây áp lực cả. Nói thế là oan cho người ta. Xưa nay tôi vẫn thế, cái gì chưa được thì nói, một cách đàng hoàng và xây dựng. Cái gì hay thì khen, nhỏ cũng khen, thậm chí còn cố tìm cái tốt để khen.
Tôi thực sự vui mừng vì đất nước đã đổi mới, đời sống người dân khá hơn xưa, có thể nói đổi đời. Trong chừng mực nào đó người dân đã có tự do và dân chủ. Cả nhân quyền. Đảng lãnh đạo đất nước thì có vai trò lớn trong việc này và phải ghi nhận. Còn tham nhũng, tiêu cực này nọ là chuyện khác, chuyện nghiêm trọng, và tôi sẽ tiếp tục phản biện về chuyện này.
Vì biết không còn cách nào khác, tôi chỉ mong đảng đổi mới hơn nữa. Tôi lên tiếng với hy vọng đảng và nhà nước nhận thấy vấn đề và có chính sách thích hợp.
Tôi viết thơ con nít và thơ Phật để giúp người trẻ là chính. Lề trái chỉ khi bức xúc lắm mới viết.
Nhân tiện: Tôi biết nhiều lắm đấy, có khi còn hơn nhiều bác, mà biết từ lâu nhưng xưa không được nói. Bây giờ cho nói thì cảm ơn chứ sao. Nhiều bác lề trái cực đoan và một chiều quá. Còn chửi lung tung. Quyền các bác, nhưng tôi thấy điều ấy chẳng hay chút nào. Đóng góp cho sự nghiệp tiến bộ quan trọng là việc làm chứ không phải lời nói thóa mạ.
Thế là rõ nhé. Tôi là thế, sẽ luôn như thế. Ai thích thì đọc, không thì thôi và đừng nặng lời. Tính tôi không thích người ta nói đến. Thề luôn. Không thích cả khen thưởng, giải này giải nọ. Tôi chỉ muốn lặng lẽ làm việc không ngừng nghỉ với cường độ cao như bốn, năm chục năm nay, cố làm được cái gì tốt cho đời thì làm.
Thế nhé. Chấm hết nhé. Chào!

Thôi rồi, “nhà thơ” Thái Bá Tân "cải chính" như thế thì khác nào tọng phân vào mõm “nhà báo” Võ Văn Tạo.
Đến nước này, thì Tạo chịu hết nổi, thôi thì quẳng luôn cái danh hiệu “nhà báo” giả cầy để bốc cứt trả thù:
-----------