Thứ Tư, 13 tháng 12, 2017

Tiễn anh Thăng





------------


Bác Thăng nay đã thăng rồi,
Ôn câu chuyện cũ ngậm ngùi lòng ta.
Nhớ cái thuở Sông Đà ngày nọ,
Cán bộ Đoàn tuy khổ mà vui;
Ra sân một lũ đen thui,
Quần đùi áo rách ai cười mặc ai
Cũng có lúc trổ tài ca nhạc
Xách đàn lên quang quác tình ca;
Có khi tầng gác Ka ra
Không ôm thì đã chẳng là Ô kê;
Lại có lúc tái tê gió bấc,
Chén rượu quê ấm áp tình thương,
Nhớ khi bạc mặt công trường,
Nghỉ ngơi tranh thủ khẩn trương chia bài…
Buổi bao cấp ai người chả khổ?
Mỗi bác thành cán bộ cấp to
Anh em vừa sướng vừa lo
Dặn dò bác bớt bô bô cái mồm.

Đùng một cái bác sang Dầu khí,
Những tưởng rằng thỏa chí Kinh – Tài.
Đàn em ai gửi một bầy,
Ăn hại đã lắm, ăn mày càng đông.
Tính cả nể bác không chịu sửa,
Nết phổi bò bác chửa chịu tu.
Sáu năm là mấy mùa thu,
Bao nhiêu nghìn tỷ vù vù thăng thiên?
Ai chả muốn lãng quên cục nợ,
Bỗng một hôm tiếng dữ đồn xa,
Khéo oan gia của phá gia,
Phải tay họ Trịnh tên là Xuân Thanh?
Hà cớ sự biển xanh biển đỏ?
Chẳng nhớ câu đả hổ diệt ruồi,
Ruồi toi thì hổ cũng toi,
Biết thôi, thôi thế thì thôi mới hòng !
Khôn cho lắm cũng không bằng dại,
Tội tình chi bác phải đi tù?
Rượu ngon không có bạn tu,
Không mua có nghĩa là xù, không mua.
Quần đùi rách te tua muốn vá,
Vá đưa ai, ai đá bóng chăng?
Đàn treo dây dợ loằng ngoằng
Án kia treo những mấy năm, hỡi người?

Ai cũng biết lưới trời lồng lộng,
Tôi tuy thương, cũng hổng khóc đâu;
Tuổi già dẫu khỏe như trâu,
Một hàng chả có lấy đâu hai hàng...




------------------

Thứ Hai, 11 tháng 12, 2017

“Cải cách” chữ Việt là sự nghiệp của “quần chúng”!



------------------


Như entry trước đã viết, trong lịch sử gần 400 năm của chữ Việt, đã có vài chục lần các bậc  “tiền bối”, cả Tây lẫn ta, đề xuất ý tưởng “cải cách”, riêng chỉ có ông PGS. TS Bùi Hiền là bị “đám quần chúng không hiểu gì cứ ào ào vào ném đá” (lời của TS Đoàn Hương). 
Trong bài viết “Chữ quốc ngữ”, trên tờ Đông Dương tạp chí, số 33, năm  1913, ông Nguyễn Văn Vĩnh từng than: “Mấy năm nay có người bàn cách sửa đổi chữ quốc ngữ cho phải lẽ nhưng chẳng lý nào bằng thói quen của người ta, cho nên tuy đã có nghị định y lối Kuốk-ngữ tân-thứk, mà không ai chịu theo, tân thứk lại mang tiếng oan rằng khéo vẽ vời cho nhiễu sự”.
Dường như từ trước đến giờ, mọi đề xuất cải cách của các học giả, kể cả khi có sự ủng hộ của nhà cầm quyền (như Nghị định về Quốc ngữ tân thức ngày 16-5-1906 mà  ông Nguyễn Văn Vĩnh nhắc tới ở trên) đều không thành công. Mặc dù vậy, chữ viết tiếng Việt vẫn biến đổi dần dần thành ra lối viết như ngày nay.
Tác giả của cái sự biến đổi ấy, không ai khác, chính lại là “đám quần chúng không hiểu gì” kia.
Quý vị “quần chúng” thân mến!
Quý vị “ném đá ào ào”, thậm chí có thể “ỉa vào” đề xuất cải cách của PGS.TS Bùi Hiền, nhưng chính quý vị vẫn đang áp dụng những “cải cách” tương tự.
Thật vậy.
Để có thể rủa xả ai đó trên mạng, chắc chắn là quý vị phải “viết” tiếng Việt thông qua bàn phím chứ không thể dùng cây bút thông thường. Vậy thì một điều không thể tránh được, là quý vị buộc phải biết gõ tiếng Việt theo các quy ước mang tên Telex, VNI, hoặc VIQR, là 3 kiểu gõ tiếng Việt thông dụng nhất hiện nay. Chẳng hạn, nếu chọn kiểu gõ Telex, thì hai chữ “Tiếng Việt”  sẽ được quý vị “viết” thành “Tieengs Vieetj”. Và xin thưa, khi viết như thế, thì quý vị đã “tiếp sức” cho một cuộc “cải cách chữ quốc ngữ” cách đây gần tròn 90 năm đấy ạ, vì đây chính là đề xuất  của học giả Nguyễn Văn Vĩnh vào năm 1928.
Nhưng chẳng những giờ đây quý vị mới “tiếp sức” cho việc cải cách, thực ra trong quá khứ, quý vị đã rất nhiều lần tự ý “cải cách chữ viết” mà không cần phải “đề xuất” với ai đấy ạ.
Quý vị hãy nhớ lại đi, ai cũng như ai, hết thời phải tham gia thi “vở sạch chữ đẹp” thì phải chuyển sang thời viết tháu, viết ngoáy và viết tắt. Đó chính là những “cải cách” đầu đời của chúng ta chứ còn gì nữa, hỡi ôi, thưa các vị “quần chúng” đáng kính?
Chẳng hạn, từ “phát triển” thông dụng sẽ được ghi thành “ptriển”. Viết bớt được những 3 chữ cái, nhưng ai nhìn vào cũng hiểu, vì không đọc là “phát triển” cũng chả thể đọc sang chữ khác.
“Cải cách” tiến thêm một bước, chữ “ptriển” lại được rút gọn thành cái mũi tên trỏ lên trên (↑), mấy chữ “đất nước phát triển” được viết thành “đnước ↑”, thật gọn và tiện lợi. 

Khi chúng ta “cải cách” như thế, các thầy cô và các bậc phụ huynh đáng kính của chúng ta chưa từng có ai đặt câu hỏi CLGT (?) – Ý tôi muốn nói là họ chưa từng đòi hỏi chúng ta Cần Làm Giõ Thêm.
Hết thời viết trên giấy thì sang đến thời @. “Quần chúng” thời @ bắt đầu có nhu cầu “viết” trên các thiết bị như máy nhắn tin, máy tính, hay điện thoại di động, rồi bây giờ là máy tính bảng và điện thoại thông minh. Và chẳng khác gì các vị giáo sư, họ nhanh chóng phát hiện ra những “bất cập”của hệ thống chữ viết hiện tại, không phù hợp với các phương tiện tương tác mới (thay cho giấy trắng bảng đen thời tiền @).

Và thế là “quần chúng” đã tạo ra rất nhiều sự “cải cách chữ viết”, thậm chí đi xa hơn các giáo sư, họ còn còn “cải cách” cả ngôn ngữ nữa cơ, như những ví dụ dưới đây:


CLGT??? (hiểu là Cần làm rõ thêm). 
Sau khi làm rõ thì hóa ra (dòng đầu tiên) là: Vài điều muốn nói



Tao đang độc thân mày ơi. Bị bánh bèo cho "ao" rồi. Buồn quá. Rảnh không thằng quỉ. Ra cà phê Time chém gió chém bão với tao tí coi. 5 phút nữa ngheo ( = nghe không).

Quý vị quần chúng khoan hẵng ra tay “ném đá” các bạn trẻ nhé, cha ông chúng ta đã từng cải cách rất thành công khi sử dụng “ổng”, “bả”, “cổ”, ảnhchỉ”... thay cho “ông ấy” , “bà ấy”, “cô ấy” ..v..v.... và đặc biệt, từ “ngeo” (rõ ràng viết là nge + o nhé) thì thay cho “nghe không” quả là thông minh và hợp lý.


Bạn Dương Đăng Trúc Khuyên, một học sinh nữ của trường THPT Trần Đại Nghĩa (Tp. HCM) sáng tạo ra phần mềm để "dịch". Tên phần mềm v2V có nghĩa là "dịch" tiếng Việt ra tiếng Việt.

Và không chỉ tiếng nói và chữ viết Việt bị “quần chúng” tiến hành “cải cách”, nước ngoài cũng thế, (sưu tầm trên internet):

"Cải cách" của "quần chúng" tiếng Hàn

"Cải cách" của "quần chúng" tiếng Tàu


Và đây là "Cải cách" của cộng đồng "quần chúng" viết tiếng Anh

---------------



Thứ Sáu, 8 tháng 12, 2017

Làm thế nào để “quần chúng” bớt ném đá?



---------------------

Chữ “quần chúng”, nguyên là của bà TS. Đoàn Hương, khi nhận xét về hiện tượng dân mạng ào ào ném đá cái “đề xuất cải tiến chữ viết tiếng Việt” của PGS.TS Bùi Hiền. Nguyên văn, bà Hương nói thế này: “một công trình khoa học (cho nên) phải có các nhà khoa học định đoạt chứ không phải là đám quần chúng không hiểu gì cứ ào ào vào ném đá…”.  
Khốn nạn thay, ngay sau khi lên tiếng, thì đến lượt bà Đoàn Hương lại nhận thêm những trận mưa gạch từ những người nhân danh “quần chúng”.
Bà Hương nói đúng hay sai, chưa biết. Nhưng không ít người cho rằng phát biểu của bà Hương là xách mé và “xúc phạm” đến “quần chúng”.
Cái “dại” của bà Hương là ở chỗ bà đã cả gan gọi “quần chúng” là “đám”, đã vậy, lại còn thêm mấy chữ “không hiểu gì” bổ nghĩa cho “quần chúng”, nên bị ném đá là phải.
Nhưng mà, vẫn cùng một ý ấy, diễn đạt  “khôn khéo” và lịch sự như ông Nghị Phước, bảo rằng “dân trí thấp” thì cũng vẫn bị dư luận ném đá đấy thôi.
Thế thì làm thế nào?
Sau bao nhiêu năm lọ mọ nghiên cứu chuyên ngành ném đá của cư dân mạng, nay mới phát hiện ra rằng, muốn không bị “quần chúng” ném đá, có một cách rất đơn giản và hiệu nghiệm.
Đó là học theo cách của anh nhà văn Phọt Phẹt Lê Hồng Tuân, tác giả các cuốn Nhọ và Huyền đề.
Anh này (và một số anh khác), thay vì gọi “quần chúng thiếu hiểu biết” là “đám quần chúng”, thì gọi “huỵch tẹt” ra.
Là, “bọn con bò”.
Không thấy ai chửi cả, ai cũng khen rằng văn anh ấy nhã.
Đấy, cứ huỵch tẹt như anh Phọt Phẹt, ấy mới là thượng sách!


Có đúng không, hở bọn con bò? 
-----------


--------------

Thứ Hai, 4 tháng 12, 2017

Cải cách chữ quốc ngữ, chuyện không có gì phải ầm ĩ



---------------
Đề xuất của PGS TS Bùi Hiền về việc cải cách chữ quốc ngữ đang làm dậy sóng dư luận hoàn toàn không phải là câu chuyện mới và lạ. Để có cái chữ như ta hiện đang viết và đọc hẳn phải có nhiều lần cải cách
Vì, thuở ban sơ, ngài Igesico Văn Tín viết như thế này, bây giờ đố ai đọc hiểu:

Dòng cuối lá thư đề ngày “mươy hay thánh chính D.C.J. ra đờy một nghìn sáu tram nam muoy chinh”, nghĩa là ngày viết thư là ngày “12-9-1659, (sau khi) Đức Chúa Jesu ra đời” .
Như vậy, sau hơn ba thế kỉ, chữ Việt dần được định hình như hiện tại dĩ nhiên phải nhờ vào rất nhiều sự cải tiến và cả cải lùi, và hình như việc ấy không chỉ là việc riêng của các vị giáo sư.
Locliec xin điểm lại các lần “cải cách” đã được ghi nhận trong lịch sử chữ quốc ngữ:
1.     Tây cũng đề nghị cải cách
Năm 1868, Le Grand de la Liraye(1819-1873) tác giả cuốn Dictionnaire élémentaire Annamite-Français (Từ điển cơ sở Việt - Pháp, 1868), đã thay đ bằng d (dức hạnh), d bằng dz (dzanh tiếng) và không dùng s mà thay bằng sh (shay rượu)...
Năm 1886, E. Aymonier, Giám đốc Trường Thuộc Địa, Thành viên của Hội Đồng quản trị Hội Pháp Văn Liên hiệp sau khi phân tích nhiều chỗ bất hợp lí của chữ quốc ngữ, chủ trương nên thay những con chữ phụ âm kép CH, NG, NH, KH, GI, v.v. bằng những con chữ đơn (đặt ra thêm nếu cần) và nên viết bản nguyên âm u trong oa, oai oe, uê, uy, v.v. bằng một chữ riêng, W: WA, WAI, WE, WÊ, WI...
Năm 1902, Hội nghị quốc tế khảo cứu về Viễn-đông, họp tại Hà Nội, trong chương trình có một cuộc thảo luận sôi nổi về đề án cải tiến chữ quốc ngữ của Tiểu ban phiên âm tiếng Việt do Jean Nicholas Chéon (Viện Viễn Đông Bác cổ) đề xuất. Chéon đã đánh giá về chữ quốc ngữ qua từ điển A.de. Rhodes như sau: “Phương pháp ấy thực tế chứa nhiều cái bất thường mà trong một cuộc nghiên cứu ngôn ngữ như thế này sẽ có nguy hại là làm sai lạc kết quả nghiên cứu mà thôi. Vì vậy chúng tôi … phải loại bớt những cái bất thường và kì quái làm cho nó hợp lí”.  Để khắc phục J.N.Chéon đề nghị “dùng K thay cho C, KW thay cho QU; dùng D thay cho Đ và Z thay cho D; dùng J thay cho GI, ẹ thay cho NH,Č thay cho CH; bỏ H trong GH”.
Năm 1906, Hội đồng cải lương học chính Đông Dương do Nordemann làm chủ tịch, lại đề nghị cải cách chữ quốc ngữ. Toàn quyền Pháp tại Đông Dương đã chuẩn y và ban hành Nghị định ngày 16-5-1906 về việc dùng kiểu chữ quốc ngữ cải tiến này trong các sách giáo khoa. Tuy nhiên, đề xuất này cũng bị dư luận “ném đá” kịch liệt. Học giả kiêm linh mục nổi tiếng L. Cadière, trong bài viết “Le question du quốc ngữ” (Những câu hỏi về quốc ngữ) gọi đây là một sự “cải lùi”: “Xét về mặt khoa học cũng như về mặt thực hành và sư phạm, dự án này thật là một cuộc thoái bộ.”
Năm 1910, tác giả Dubois, trong quyển Tiếng Việt và tiếng Pháp lại phân tích rằng thành phần viết bằng IÊ, UÔ, ƯƠ trong iêu, iên, uôi, uôt, ươi, ương, chính là các nguyên âm liền đôi ia, ua, ưa, và những nguyên âm liền đôi này cần phải được viết thành IƠ, UƠ, ƯƠ….  
Từ đó về sau, có lẽ người Pháp cho rằng “chữ quốc ngữ đã được thử thách; không thể nào sửa đổi nó nữa...” nên không còn ai đề nghị cải cách.
Dĩ nhiên là người Việt còn lâu mới chịu.
2.     Những đề nghị cải cách của người Việt
Năm 1919, trên tờ Trung-Bắc tân-văn, tác giả Phó Đức Thành nêu ý kiến nên dùng các con chữ (B, K, L, D, Q) viết sau đuôi chữ, thay thế cho các dấu chỉ giọng (huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng). Ý tưởng này sau này được ông Nguyễn Văn Vĩnh lặp lại vào năm 1928.
Năm 1927, tờ Hà Thành ngọ báo, số 99 ra ngày 30-8 đăng bài Mấy điều cải cách trong lối viết quốc ngữcủa một tác giả có tên Sĩ Tâm:

Năm 1928, học giả kiêm chủ nhà in kiêm chủ báo Trung Bắc Tân Văn là ông Nguyễn Văn Vĩnh, đề xuất lối in chữ “quốc ngữ mới”, gọi là Quôcj Ngưw Moeij, sử dụng một số chữ thay cho các dấu thanh và những chữ như ă, đ, ư…, nhằm mục đích giảm bớt chi phí trong việc phải đúc dấu và các chữ cái riêng không có trong bộ chữ có sẵn của Tây.
Thực ra thì ý tưởng này không do Nguyễn Văn Vĩnh nghĩ ra. Trước đó 9 năm, trên chính tờ Trung Bắc Tân Văn của ông Vĩnh (số 715, ngày 30-7-1919), đề nghị của ông Phó Đức Thành, đã bị chính ông Nguyễn Văn Vĩnh bác đi. (chi tiết xem thêm tại https://locliec.blogspot.com/2016/03/hoc-gia-nguyen-van-vinh-va-kieu-go.html).
Năm 1930, nhà văn Vi Huyền Đắc trong tập Việt-tự  toan làm một cuộc cách mạng thật sự khi đề nghị bỏ hẳn chữ quốc ngữ, đặt ra một lối chữ hoàn toàn mới, với những nét mượn của chữ Hán và chữ Nhật
Năm 1932, tác giả Dương Tự Nguyên, trên tờ Văn-học tạp-chí chủ trương “phủ nhận toàn bộ các dấu” bằng cách dùng những con chữ nguyên âm kép để thay thế cho những con chữ nguyên âm có dấu phụ: dùng AA, EE, OO thay cho Â, Ê, Ô; dùng EA, OU, EU, thay cho Ă, Ơ, Ư; dùng IE, UO, UA, EUO thay cho IÊ, UÔ, UÂ, ƯƠ, ….
Năm 1933, trên tập san Khoa Học, Số 38, ra ngày 15-1 đăng bài Danh từ khoa học và quốc ngữ mới”:

Năm 1939, nhà văn, nhà báo Nguyễn Triệu Luật, trên tạp chí Tao-đàn chủ trương an viết AN, ăn viết ANT, ap viết AP, ăp viết APH…
Năm 1946, một trong những nhiệm vụ cấp bách mà Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đặt ra là “diệt giặc dốt”, xóa nạn mù chữ cho 95% đồng bào còn chưa biết chữ thông qua phong trào “Bình dân học vụ”. Đầu năm 1946, báo Cứu Quốc, tờ báo của Tổng bộ Việt Minh đã phát động một cuộc vận động cải tiến chữ quốc ngữ, trong đó nhấn mạnh các yêu cầu rất thiết thực đối với việc sửa đổi: đầu tiên là phải phù hợp với “giới bình dân”, thứ hai, là có ích lợi đối với “việc ấn loát” và thứ ba, là phải thuận tiện trong “trao đổi văn hóa với nước ngoài”.

Có khá nhiều tác giả hưởng ứng cuộc vận động nói trên, chẳng hạn một vị Giám mục là cụ Hồ Ngọc Can, trên báo Tiền Phong số 19, năm 1946 đã có bài viết “Bàn góp về vấn đề cải cách chữ quốc ngữ”:
Hình ảnh Bài báo

Năm 1949, tác giả Trần Văn Được soạn sách “Vần Việt ngữ cải cách” trong đó “hữu” viết thành HUUUZZ, “thường” viết thành THUUOONGW, “nhưỡng” viết thành NHUUOONGZZ…
Năm 1950, nhà nghiên cứu ngữ âm tiếng Việt là Nguyễn Bạt Tụy (1920-1995), đã xuất bản cuốn sách Chữ và Vần Việt Khoa Học, đề cập đến việc cần thiết phải sửa đổi cách viết chữ quốc ngữ trên nguyên tắc dùng âm vị học để ghi âm tiếng Việt. 
Nguyễn Bạt Tuỵ chủ trương ap phải viết AB, ăp phải viết AP, ac phải viết AG, ăc phải viết AK. Đoạn thơ Chinh phụ ngân như trên được đọc là "Chí làm trai dăm nghìn da ngựa, Gieo Thái sơn nhẹ tựa hồng mao, Giã nhà đeo bức chiến bào, Thét roi cầu Vị ào-ào gió thu".
Đề nghị của Nguyễn Bạt Tuỵ được các học giả đương thời như Đào Duy Anh, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Đình Toàn đánh giá rất cao. Chẳng hạn Nguyễn Hiến Lê nhận định “đây là một công trình khảo cứu rất công phu về ngữ âm Việt, có nhiều sáng kiến và đưa ra nhiều đề nghị hợp lý”. Tuy vậy, dẫu có được ca ngợi, vẫn chẳng có ai chịu viết theo lối cải cách của ông.
Năm 1956, Đại Hội Văn Hoá Toàn Quốc tại Sài Gòn đã lập ra Uỷ Ban Ngôn Ngữ, kiến nghị việc sửa đổi một số cách viết chữ Quốc ngữ.  Nội dung của đề án cải tổ lần này vẫn không tách ra khỏi những đề nghị của Tiểu ban phiên âm tiếng Việt (do Jean Nicholas Chéon đứng đầu) năm1902 và không gây được tiếng vang.
Năm 1960, Giáo sư Hoàng Phê (Viện Ngôn ngữ học – Hà Nội) chủ trương cải tiến chữ quốc ngữ theo hai nguyên tắc chính sau đây:
1- Dựa trên cơ sở nghiên cứu ngữ âm học về tiếng Việt hiện đại mà cải tiến chữ quốc ngữ, làm cho chữ quốc ngữ viết ghi âm tiếng Việt hiện đại được đúng hơn, hợp lí hơn, khoa học hơn.
2- Dựa trên cơ sở chữ quốc ngữ hiện dùng mà cải tiến chữ quốc ngữ từng bước, không đặt vấn đề “cải cách triệt để” chữ viết (thật ra cũng không cần thiết), không xáo trộn nhiều, làm thế nào cho những người đã quen với lối chữ cũ không phải bỡ ngỡ, không phải tốn công học tập lại, và sách vở cũ vẫn tiếp tục dùng được.
GS Hoàng Phê đề nghị bước đầu cần phải: Bỏ H vô lí trong GH và NGH,  dùng F thay PH; D thay Đ; Z thay GI. Viết phụ âm k bằng K trong mọi trường hợp, thay cho C (và nghiên cứu thay cả cho Q), nhất luật viết nguyên âm i bằng I trong mọi trường hợp: đi (học), iêu (thương), iết (kiến), kì (lạ), mĩ (thuật)…
Chỉ dùng Y để viết bán nguyên âm i trong ay và ây, thêm W để viết bán nguyên âm u trong uy: uy, uya, uynh sẽ viết WI, WIA, WINH, và qui sẽ viết KWI , cui sẽ viết KUI...
Cũng trong năm 1960, Hội nghị cải tiến chữ Quốc ngữ tại Hà Nội do Ủy ban Khoa học nhà nước, Viện Văn học tổ chức vào các ngày 21, 28, 30 tháng 9, tổng kết vào ngày 7 tháng 10 và có đến 23 bản tham luận, trong đó có bản bản báo cáo Cải tiến chữ Quốc ngữ của Tổ Ngôn ngữ học Viện Văn học do GS Hoàng Phê chủ trì.
Năm 1995, tác giả Nguyễn Kim Hoạt trên Báo Hà Nội Mới số ra ngày 23-9 đặt vấn đề  “Có nên cải cách chữ Quốc ngữ không?” và đề nghị thay j cho gi và bỏ phụ âm kép gh (ví dụ: ghênh = gênh)”...
Năm 1996, Đại học Tổng hợp Tp.HCM tổ chức Hội nghị Chữ Quốc ngữ và sự phát triển chức năng xã hội của tiếng Việt, GS Cao Xuân Hạo gửi tham luận Mấy nhận xét về chữ Quốc ngữ” nhận định: “Có lẽ chữ Quốc ngữ chỉ nên đổi một điểm duy nhất là bỏ h sau ng (chứ không phải sau g)".
Báo Sài Gòn Giải Phóng số ra ngày 24-6 có đăng ý kiến “Chừng nào mới đổi mới cách viết chữ Quốc ngữ” của ông Bùi Ngọc Sánh (Paris) đề xuất  “Chấp nhận chuẩn hóa để c thay k; k thay kh; q thay qu; z thay d; d thay đ; f thay ph; j thay gi; g thay gh; ng thay ngh; a thay ă; o thay ơ; u thay ư”...
Tóm lại, cả Tây và Ta đều đã có rất nhiều người và rất nhiều lần đề nghị “cải cách” chữ quốc ngữ vì những bất hợp lý của nó trong quá trình nghiên cứu và sử dụng. Nhưng đề xuất thì cứ đề xuất, đánh giá đề xuất ấy là đúng hay sai, là cải tiến hay cải lùi là việc của các nhà chuyên về ngôn ngữ học, mà chuyên ngành này, không may lại là chuyên ngành quá hẹp, rất ít người am hiểu. Nên chả được mấy ai thuộc tầng lớp bình dân ủng hộ.

Bởi vậy, dẫu có là cải tiến hay cải lùi, thì đề xuất của GS TS Bùi Hiền chắc chắn vẫn chưa phải là đề xuất cuối cùng cho công cuộc "cải cách" chữ quốc ngữ. Ông và đề xuất của ông hoàn toàn không đáng bị "dư luận bình dân" “ném đá” dữ dội như hiện nay. 
---------------


Thứ Tư, 1 tháng 11, 2017

Obama “bình dân”?


-----------
Ngày 10-11 tới đây, Tổng thống Mỹ Donald Trump sẽ tới Đà Nẵng dự Hội nghị hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC). Hôm sau, Trump sẽ thăm chính thức Hà Nội. 
Chưa rõ Trump có phong thái “bình dân” như người tiền nhiệm là Obama hay không?
Thời còn là Tổng thống Hoa kì, trong những chuyến công cán, người ta thấy Obama thường la cà vào các nơi quán xá bình dân.



Ở đấy, anh ấy bắt tay thân thiện người này, vỗ vai người nọ, vẫy tay chào hay hôn gió với người khác, rồi gọi một món ăn cầm tay và ngoạm một miếng thật to, để chụp hình, đăng báo. Sang Hà Nội cũng thế, Obama “bình dân” đi ăn bún chả ở số 24 Lê Văn Hưu. Nhìn cái ảnh hay đoạn video ấy, người ta nức nở khen ô kìa, ô kìa kìa Tổng thống của cường quốc số một hành tinh, ấy vậy mà phong cách xem ra vô cùng dân dã và thân thiện.
Ai cũng xuýt xuýt xoa xoa như được ăn món bún chả, chỉ riêng đám mật vụ Mỹ là lẩm bẩm chửi thầm, cố gắng né ra thật xa các khuôn hình ống kính. Là bởi để có được vài phút cho ngài Tổng thống trình diễn phong cách bình dân, họ đã phải chạy mướt mồ hôi, chạy sôi nước mắt. Ấy là chưa kể trước đó cả tuần, bọn chúng đã phải lập kế hoạch, lên phương án, diễn tập, bảo vệ vòng trong, vòng ngoài, trên trời, dưới đất. Tốn kém không biết bao nhiêu công của để ngài Tổng thống “được ăn, được nói, lại được gói hai chữ “bình dân” mang về.
Tạp chí Washington Examiner, mới đây, dẫn nguồn từ tài liệu của tổ chức Judicial Watch mách rằng: chỉ riêng chi phí mật vụ phục vụ an ninh cho các chuyến du lịch của gia đình Obama trong 8 năm anh ấy tại vị, là con số xấp xỉ 100 triệu USD.
Obama “bình dân” quả thực rất khéo kết hợp “đánh quả” trong những chuyến công du. Việc “vi hành” đi ăn bún chả 24 Lê Văn Hưu năm trước được đám truyền thông thổi phồng thành một sự kiện dường như đã “chạm đến trái tim” đám người Việt cuồng Mỹ. Chả mấy ai chịu hiểu cho rằng thực sự đấy chỉ là một màn “làm kinh tế” của ngài Tổng thống dưới sự đạo diễn của đầu bếp tài ba người Mỹ gốc Pháp Anthony Bourdain, người dẫn chương trình Parts Unknown nổi tiếng, phát sóng trên kênh truyền hình CNN. Xét về bản chất, đây chẳng qua chỉ là cái việc “làm thêm” không khác gì đám sinh viên du học thời trước chuyên “cải thiện” bằng cách buôn bàn là, nồi áp suất.  
Nhưng đừng có thấy người ta ăn khoai cũng vác mai đi đào. Tổng thống Mỹ nó tranh thủ “làm thêm” thì “vừa có tiếng lại vừa có miếng”, chứ các quan nhà mình, nếu có dịp đi công tác nước ngoài, có mua chai dầu gió cũng nên cảnh giác nhìn trước ngó sau xem có đứa nào quay phim chụp ảnh không. Kẻo nay mai lại thấy hình mình chình ình trên Facebook với dòng chú thích quen thuộc “quan chức X sử dụng tiền thuế của dân vào việc riêng”.

Giới bác sĩ nước mình hẳn đã học được bài học cay đắng từ giới truyền thông khi định bắt chước phong thái “bình dân” của Obama gác chân lên bàn trong cả những cuộc họp nội các.





Về thể thao, Obama chỉ đam mê mỗi một môn thể thao “bình dân”, đó là món chơi golf. Trong ba năm đầu làm tổng thống, Obama chỉ dám chơi có 50 trận golf mà thôi, thế mà đã bị bọn đảng Cộng Hòa lôi ra chỉ trích. Vậy là để sửa chữa khuyết điểm, trong năm năm còn lại, Obama chơi thêm 250 trận nữa cho tổng số được chẵn 300. Vị chi sau khi bị đảng Cộng hòa phê phán, chia trung bình mỗi năm ngài Tổng thống chơi 50 trận một năm, bằng số trận trong ba năm đầu cộng lại. Như vậy có thể coi là, sau khi được góp ý, thì Obama “tiến bộ” gấp ba lần.
Tờ báo Washington Times, trích dẫn tài liệu từ Văn phòng Kiểm toán Chính phủ (GAO), cho biết, trong một chuyến chơi golf kéo dài 4 ngày của Obama với Tiger Wood tại Florida hồi đầu tháng 2-2013, chỉ riêng khoản chi phí cho việc đi lại của Tổng thống mà Bộ Quốc phòng và Bộ An ninh Nội địa chi trả đã là 3,6 triệu USD.
Hôm 31-8 vừa rồi, vẫn tờ báo Washington Times lại công bố Obama sẽ trở thành cựu tổng thống gây “tốn kém” nhất trong lịch sử nước Mỹ, khi nguồn ngân sách phân bổ cho anh ấy lên đến mức 1.153.000 USD trong năm tới. Trong đó, chỉ riêng khoản thuê văn phòng diện tích hơn 760 m2 ở Washington D.C cho ngài làm việc đã hết 500.000 USD.
Trong khi ấy, ở Việt Nam, người ta vẫn còn đang sụt sịt mách nhau rằng, sau khi hết nhiệm kì Tổng thống, cả nhà Obama sẽ phải đi ở nhà thuê chứ chả được như các quan bên ta, về hưu thì anh nào cũng đã có nhà riêng.
Thật là tội nghiệp ngài Obama “bình dân”.

---------------



Thứ Hai, 23 tháng 10, 2017

Tư liệu: Thêm một ông Tây cùng thời nữa, viết về Phan Thanh Giản



---------------

Tư liệu mà locliec giới thiệu sau đây do Ernest Potteaux viết khoảng một năm sau ngày Phan Thanh Giản uống thuốc phiện tự sát. Điều đặc biệt là ông Tây này viết bằng chữ "quốc ngữ", nên khỏi cần phải dịch. 
Ernest Potteaux là ai? Đó là viên “Thông ngôn hạng nhất thuộc Soái phủ Lại bộ thượng thơ Nam kì”, ông cũng chính là “Chánh tổng tài” (Chủ biên, tổng biên tập) đầu tiên của tờ Gia Định báo, tờ báo đầu tiên viết bằng “tiếng Annam thông thường”, phát hành số đầu ngày 15-4-1865 cho đến khi “bàn giao” lại cho Trương Vĩnh Ký vào ngày 16-9-1869. Năm 1872, Ernest Potteaux lại trở lại thay Trương, nắm giữ chức vụ “Chánh tổng tài” của Gia Định báo (theo Trần Nhật Vy – Hồ Sơ Gia Định báo).
Ngoài công việc chính là thông ngôn cho Soái phủ Nam kì, quản lý và viết bài cho Gia Định báo, Ernest Potteaux còn biên soạn lịch và các sách dạy tiếng Annam cho người Pháp (như cuốn Conversations francaises et anamites, à l'usage des établissements d'instruction publique - Đàm thoại tiếng Pháp và An Nam, sử dụng trong các trường công). Có thể nói Potteaux là một trong những người đầu tiên đã dành ra nhiều thời gian và công sức để đem thứ chữ “viết bằng tiếng Annam thông thường” ấy vượt ra khỏi hàng rào các nhà thờ Thiên chúa giáo, đem nó thâm nhập vào đời sống xã hội Nam kì. Trong cuốn lịch in từ năm 1869 mà locliec giới thiệu ở đây, đã xuất hiện cái tên "chữ quốc ngữ" mà bây giờ ta đang dùng (*).
Cuốn Lịch Annam thuộc về sáu tỉnh Nam Kì tuế thứ Kỷ Tị (1869)  do “SAIGON – Bản in nhà nước” xuất bản năm 1869, in bằng ba thứ chữ: “chữ Langsa (Pháp), chữ quốc ngữ, chữ Annam (chữ Hán)” do Ernest Potteaux biên soạn. Vì việc làm lịch là để sử dụng cho năm Kỷ Tị 1869 nên việc biên soạn chắc chắn phải được Potteaux tiến hành vào cuối năm 1868 (Mậu Thìn) hoặc sớm hơn.
Trong cuốn sách trên, Potteaux đã dành 5 trang (từ trang 36 đến trang 40) để viết về sự kiện Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây năm Đinh Mão 1867, trong đó các trang 36 và 37 có những dòng đề cập đến nhân vật Phan Thanh Giản. Xin chép và trích lại những đoạn liên quan dưới đây, (vì lối hành văn thời đó có đôi chút khó hiểu nên locliec xin được giải nghĩa ở phần trong ngoặc) .
“Tháng năm, năm Đinh Mão quan Nguyên soái (Thống đốc De La Grandière) bỏ (rời khỏi) Mỹ Tho, lại có mười bốn chiếc tàu khói với một ngàn lính Phalangsa có dư (hơn một ngàn lính Pháp) và năm trăm lính Annam mạnh mẽ trung tín mà giúp nhà nước Phalangsa.
Khi tới Vĩnh Long thì quan Nguyên soái không cho lính bắn giết người ta, không cho phá giống (thứ) gì hết.
Lại quan kinh lược Phan Thanh Giảng (Giản) đã biết chống trả với Langsa (Pháp) không có ra gì (không ăn thua), vì nhà nước Annam (triều đình Huế) xui giục quan Nguyên soái mà làm cho người hờn (nổi giận), cho nên quan Kinh lược giao (giao nộp) tỉnh Vĩnh Long, lại cấm dân đừng có chống trả cho khỏi đổ máu những người vô tội.”
“Trong ba tỉnh mới Langsa xem ra Annam đều cũng như anh em bạn hữu, sự thương nhau làm vậy (như thế) thì là ưng ý quan Nguyên soái.
Khi ông Phan Thanh Giảng còn ở Vĩnh Long, thì người (ngài) quyết cho hai nước đều làm anh em bạn hữu.
Cách một tháng sau, ông Phan Thanh Giảng chết tại Vĩnh Long, là vì thấy còn có một hai người kiếm thể cho dân khỏi ở yên (kêu gọi chống Pháp), người lấy làm buồn quá chừng, cho nên phải chết.
Trước khi người (Phan) chết thì trối (trăng trối) với con cái người phải ở tử tế một lòng với Langsa cho được bình yên, lại người xin (sau đó lại xin) quan Langsa binh vực bà con (dòng họ) người.
Đến tháng mười Annam (tháng 10 âm) con ông Phan Thanh Giảng chẳng thèm nghe lời trối ấy, mà ham sự danh tiếng sang trọng, cho nên mới theo lời không phải (lời sai quấy) mà giục cả dân trong huyện Bảo an làm giặc”.
Vậy là, theo Potteaux thì: Chẳng những “quan Kinh lược giao nộp thành Vĩnh Long”, mà ngài còn “cấm dân không được chống trả, (ngài) quyết cho hai nước đều làm anh em bạn hữu”.

Cũng theo Potteaux, trước khi chết, Phan còn cầu xin người Pháp bảo vệ dòng họ của mình (và sau cuộc mặc cả này thì sự thực đã cho thấy Phan được lời hơn nhiều so với những gì mình yêu cầu, đó là sự cam kết của Đề đốc La Grandière rằng sẽ nỗ lực bằng mọi phương cách có thể để đảm bảo cho con cháu của ngài có được những quyền lợi và chức vị thích hợp trong tương lai- xem thư điếu của La Grandière ở entry kế trước).
Về lý do Phan Thanh Giản tự tử, Potteaux cho biết: vì “người lấy làm buồn quá chừng, cho nên phải chết”. Tại sao Phan lại “buồn quá chừng”? Potteaux chỉ rõ là vì Phan “thấy còn có một hai người kiếm thể cho dân khỏi ở yên”(tức là những người chống Pháp), mà như ta đã biết trong những người “kiếm thể cho dân khỏi ở yên”đó, lúc bấy giờ có chính hai người con trai của Phan Thanh Giản là Phan Tôn và Phan Liêm (**).
Tương truyền thời ấy vua Tự Đức có đôi câu đối:
Quân ân, thần khả báo
Phụ nghiệp, tử năng thừa
Chiếu vào quan Kinh lược Phan Thanh Giản, luân lý cương thường đảo lộn, việc nước việc nhà hỏng bét cả hai, ơn vua ngài đã chẳng báo đáp mà con ngài cũng chẳng thèm nghe lời ngài, phải chăng vì thế mà ngài “buồn quá chừng”, nên tự tìm đến cái chết?.

----------

(*) Một câu hỏi từng được đặt ra trong các nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển chữ “quốc ngữ” là: Ai là người đã đặt tên cho thứ chữ ghi âm theo chữ cái Latin mà ngày nay chúng ta đang dùng là “Chữ Quốc Ngữ”? Cho đến bây giờ, chưa thể khẳng định đích xác được người đó là ai. Nhưng nếu căn cứ trên văn bản cuốn Lịch Annam thuộc về sáu tỉnh Nam Kì tuế thứ Kỷ Tị (1869) ta có thể thấy Ernest Potteaux là ứng cử viên sáng giá nhất. 

(**) Phan Tôn và Phan Liêm sau này cũng "thừa" được "nghiệp" của cha. Sau khi bị bắt trong trận Pháp tấn công thành Hà Nội tháng 11 năm 1873, Tôn và Liêm được đưa sang Pháp. Trở về, Liêm được Khâm sứ Pháp ở Trung kì là Hector ban cho chức Khâm sai đại thần (theo thư ngày 7-7-1986 của Trương Vĩnh Ký cửi Paul Bert). Liêm trở thành tay sai đắc lực của Pháp trong việc đàn áp nghĩa quân, "cùng quan quân Pháp đến các phủ huyện chia đường đóng chặn, đánh dẹp nhiều lần, bắn chết hơn 150 người, bắt 36 người, chém 11 người và thu được các hạng súng ống khí giới". (Báo cáo tháng 10/1886 của Liêm, chép trong Quốc sử quán triều Nguyễn, sách Đại Nam thực lục chính biên).