Thứ Ba, 24 tháng 6, 2025

Chuyện nghe nhìn thời sơ tán

 


Trong Mấy lời của tác giả mở đầu cuốn "Bên thắng cuộc" Huy Đức kể: "Những chiếc máy Akai, radio cassettes, được những người hàng xóm tập kết mang ra, giúp chúng tôi biết những người lính xa nhà, đêm tiền đồn còn nhớ mẹ, nhớ emchứ không chỉ có “đêm Trường Sơn nhớ Bác”", và mãi đến những năm 1983 vào Sài Gòn mới "bắt đầu biết đến rạp chiếu bóng, Nhạc viện và sân khấu ca nhạc".

Khác với Huy Đức, mình không cần phải vào miền Nam mới biết đến rạp chiếu bóng, Nhạc viện và sân khấu ca nhạc. Thực tế có vẻ ngược lại, cũng năm 1983, mình tham gia xây dựng hai nhà hát ở phía Nam, đó là rạp hát Hộ Phòng (Giá Rai) và rạp hát Trần Văn Thời ở tỉnh Minh Hải. Đó là các rạp hát đầu tiên nằm ở các trung tâm thị trấn này.

Cũng trong lời mở đầu này, Huy Đức đã giới thiệu: "Đây là công trình của một nhà báo mong mỏi đi tìm sự thật" và "Lịch sử cần được biết như nó đã từng xảy ra". Nhưng những dòng Huy Đức viết ra không phải là toàn bộ cái "đã từng xảy ra", và càng không thể là lịch sử. Nếu Huy Đức có mô tả sự thật, thì đó cũng chỉ là một mẩu sự thật của riêng Huy Đức mà thôi.

Thế nhưng, đoạn văn mà Huy Đức kể lể ở trên có thể làm cho người đọc ngộ nhận (hay ngộ độc) rằng ngoài Sài Gòn (của "Bên thua cuộc") thì ở miền Bắc, nơi Huy Đức sinh ra và trưởng thành, không có "rạp chiếu bóng, Nhạc viện và sân khấu ca nhạc" và âm nhạc thì "chỉ có “đêm Trường Sơn nhớ Bác”.

Vậy nên dưới đây, mình sẽ kể những chuyện xem gì, nghe gì, ở đâu, trong "một thời đạn bom, một thời hòa bình" ấy. Đó cũng không phải là toàn bộ sự thật và vẫn chỉ là một mẩu nhỏ của cái "đã từng xảy ra" qua trải nghiệm của một cá nhân.

Mình không biết quê Huy Đức có các rạp hát, rạp chiếu bóng (và nhạc viện nữa cơ à?) hay không, nhưng hai nơi mình từng ở là Thị xã Ninh Bình và thành phố Nam Định thì chắc chắn đều đã có các rạp hát, rạp chiếu phim.

Thị xã Ninh Bình bị bom Mỹ phá sạch, kể cả nhà thờ chứ  đừng nói tới rạp hát, rạp xi nê. (Lạc đề một tý, mình vẫn tiếc cái nhà thờ đổ do bom Mỹ này nằm bên lối vào nhà ga cũ. Nó có một vẻ đẹp hoang tàn tuyệt phẩm, tưởng như bom đạn vô tình mà cũng biết tạo ra cái đẹp).

Ở Ninh Bình, khoảng năm 1973-75, nhà hát mới được xây dựng trên đường bên bờ Sông Vân. Mình vẫn được bác Mạc Kính Dương (bấy giờ là Trưởng Ty Văn Hóa) cho giấy mời vào xem Đoàn chèo Ninh Bình hay Đoàn kịch nói Ninh Bình biểu diễn ở đây. Năm ngoái (2024), rạp này được phá đi và xây lại với kiến trúc hiện đại (và độc đáo) hơn, mang tên Nhà hát Phạm Thị Trân, người được suy tôn là "bà tổ nghề sân khấu của Việt Nam".

Cách thị xã Ninh Bình khoảng 30km thì đến giờ vẫn còn rạp Kim Mâu 800 chỗ, thuộc huyện Kim Sơn. Rạp này được xây dựng khoảng năm 1960, không bị bom Mỹ phá, tên rạp mang đậm dấu ấn kết nghĩa Bắc-Nam: Kim sơn-Cà Mâu.

Năm 1976, hợp nhất tỉnh, nhà mình chuyển sang Nam Định thì thấy còn khá nhiều rạp tồn tại qua các đợt chiến tranh.

Thành phố Nam Định nhỏ, chu vi đi xe đạp khoảng chưa tới 30 phút đã hết nhưng lúc bấy giờ có khá nhiều rạp chiếu phim như Văn Hoa, Hoa Đô, Kim Đồng và rạp Tháng Tám (phim) nằm cạnh rạp Bình Minh (Cải lương) trên đường Trần Hưng Đạo. Nhà hát 3-2 (đa năng) thì nằm bên hồ Vị Xuyên...

Nam Định có các Đoàn Kịch nói, Đoàn chèo và Đoàn Cải lương. Chú Văn Phúc, kép chính của đoàn Cải lương Nam định cũng thi thoảng cho mình giấy mời. Nhà chú chung vách lửng với nhà mình (bên trên thông nhau), nên khi bà cụ Phúc (mẹ chú) dạy hát bên nhà kia - bà là nghệ nhân nổi tiếng về hát chèo (dòng cụ Trùm Thịnh) và có nhiều học trò ở Hà Nội về học - thì bên này cũng được học ké. Con trai chú Phúc - em Đại Phong sau cũng trở thành Nghệ sĩ cải lương.

Ở Nam Định (và cả Hà Nội) còn có một cái thú về văn hóa nữa là đi xem triển lãm tranh, tượng không mất tiền, xem thì mê mẩn quên đường về nhưng nhìn thấy giá là... muốn ngất.

Đó là chuyện xem, nghe gì, ở đâu, từ khi Mỹ ngưng ném bom miền Bắc, còn trong chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ thì thế nào?

Sau sự kiện 5- 8-1965, Johnson ném bom, nhà mình sơ tán về vùng nông thôn cách thị xã Ninh Bình khoảng 5km. Nhớ lúc ấy mới học vỡ lòng, đã được đi theo các anh ở nơi sơ tán xem phim rồi. Qua một cái cầu gỗ, sợ quá phải bò, nên có ông anh cõng qua.

Sau lớn thêm chút thì tự đi, không có tiền thì "rúc rào". Phim "Những kẻ báo thù không thể bị bắt" (Liên Xô) được trẻ con xuyên tạc ngay thành "Những kẻ rúc rào không thể bị bắt".

Thực ra chẳng có rào nào cả, người ta chỉ chăng sợi dây thừng quanh khuôn viên bãi chiếu. Trẻ con không muốn "rúc rào" thì bày ra bộ mặt nịnh nọt, xin anh soát vé cho vào cũng có khi được. Thời kỳ này mình xem phim Nổi gió chắc phải đến 2 lần, nội dung thì không nhớ (vì còn bé quá) chứ các nghệ sĩ Thế Anh (trung úy Phương) và Trà Giang thì nhớ mặt luôn.

Cũng có khi không vào bãi, kiếm chỗ đứng ngoài xem ngược từ phía mặt sau của màn ảnh. Sau này đến lúc loại phim màn ảnh rộng ra đời thì người ta mới che kín phía sau. Phim phổ biến hồi ấy là các phim của Liên Xô (Người thứ 41, Bài ca người lính, Đàn sếu bay, Vua Sultan...); Trung Quốc (Bạch mao nữ, Rừng thẳm tuyết dày, Mưu chiếm núi Uy Hổ, Tôn Ngộ Không ba lần đánh Bạch Cốt tinh...), thậm chí còn có cả phim Đức, Ba Lan hay Rumani (Tượng đồng người thứ sáu).

Ngoài các đội chiếu bóng lưu động, thì Ninh Bình còn có Đoàn Ca múa, Đoàn Kịch nói và Đoàn Chèo, cũng diễn lưu động ngoài bãi khi máy bay Mỹ ngưng ném bom. Kịch thì nhớ vở "Tiền tuyến gọi"..., chèo thì nhớ vở "Trần Quốc Toản ra quân"... mà bà con nông dân "chế" thành "Trần Quốc Toản xe phân". Thời kỳ này mình toàn xem bãi, không có rạp. Rạp bom Mỹ phá rồi. Trách ai? Trách đất nước à?

Thế còn nghe gì? Liệu có phải chỉ có "Đêm Trường Sơn nhớ Bác"?

Tin hay không thì tùy, mình bắt đầu quan tâm đến nhạc giao hưởng từ những năm 1970-1971, ở nơi sơ tán, giữa những đợt ném bom của Johnson và Nixon.

Có lẽ ít người còn nhớ là trong những năm tháng ấy, mỗi sáng Chủ nhật, tầm từ 8-9h, Đài Tiếng nói Việt Nam dành ra khoảng một tiếng đồng hồ phát chương trình Giới thiệu các tác phẩm âm nhạc nước ngoài.

Chương trình này do nhạc sĩ Hồ Bắc thực hiện. Ông trực tiếp giới thiệu, phân tích, dẫn dắt người nghe và bình giải một cách có hệ thống những tác phẩm âm nhạc nổi tiếng của các nhà soạn nhạc cổ điển như Tchaikovsky, Chopin, Beethoven, Moza, Shostakovich... Ngu như mình dần dần cũng hiểu được đôi chút.

Gây ấn tượng với mình nhất là Bản Giao hưởng số 5 (Định mệnh) của Beethoven và Hồ Thiên nga của Tchaikovsky. Khi phân tích từng chương, từng đoạn ông nói say mê và xúc động như nhập đồng. Sau mới biết, con gái Hồ Bắc mang tên Hồ Thiên Nga.

Đến khi Nixon ném bom Hải Phòng, Hà Nội (12 ngày đêm) thì chương trình này ngưng. Nhưng, một điều đặc biệt là ngay sáng sớm ngày đầu tiên của hòa bình (sau khi ký hiệp định Paris) thì Đài Tiếng nói Việt Nam lại phát chương II Concerto piano số 5 của Beethoven.

Ở quê Huy Đức, Nghệ An hay Hà Tĩnh cũng đều nghe được, nếu muốn. Nhưng cũng có thể lúc ấy Huy Đức còn bé quá, không để ý.

Nhạc viện thì Nam Định, Ninh Bình không có, quê Huy Đức chắc cũng không có. Hà Nội dĩ nhiên là có, Sài Gòn cũng có (và còn có rất nhiều Viện uốn tóc).

Vậy nên mình sẽ kể một chút về Nhạc viện Hà Nội thời bom đạn, và chờ Huy Đức kể về Nhạc viện của "bên thua cuộc".

Nhạc viện Hà Nội chính là cái tên ở thời sơ tán, sau đổi thành Học viên âm nhạc Quốc gia Việt Nam, nhưng người ta vẫn gọi một cách dân dã là Trường Nhạc. Anh Minh, đi bộ đội về rồi học Đại học cùng lớp mình là con một cụ đã từng lãnh đạo nơi đây, anh nổi tiếng "trùm sò" nhưng lại hay cho mình đọc ké sách, truyện và "ép" mình dùng xà phòng Camay của anh (một thứ xa xỉ phẩm thời bao cấp) để tắm.

Mỹ ném bom miền Bắc, Nhạc viện Hà Nội cũng hai lần phải đi sơ tán. Thời Johnson ném bom (1965), trường Nhạc về xã Xuân Phú, huyện Yên Dũng và thời Nixon ném bom (1971) lại sơ tán tiếp về huyện Hiệp Hòa (Hà Bắc).

Trong những năm tháng gian nan ấy thì thầy trò Trường Nhạc vẫn cứ dạy và học say mê. Tiếng đàn, tiếng hát vẫn cất lên ngay ở nơi bụi chuối, bờ tre, cạnh đàn gà, con trâu hay đống rơm. Những đêm không có đèn, thầy trò họ vẫn miệt mài học tập. Có báo động thì chui xuống hầm, hết báo động lại chui ra học tiếp.

Ngoài dạy và tập đàn, các thầy còn kiêm nhiệm việc đào hầm để tránh máy bay, tối đến tự học ngoại ngữ dưới ánh đèn dầu. Chủ nhật thầy cô vẫn tranh thủ đạp xe 70 km về Hà Nội. Thỉnh thoảng họ tổ chức biểu diễn ở sân kho hay đến tận các trận địa pháo cao xạ. Và đi tuyển sinh các nơi, kể cả ở tận Nghệ An, chỉ bằng xe đạp.

Nhưng dẫu khó khăn gian khổ đến mấy, thì cũng chính từ cái nôi nơi sơ tán này đã ươm mầm và phát hiện một nhân tài kiệt xuất là nghệ sĩ piano Đặng Thái Sơn, sau này đạt giải nhất cuộc thi Concours Chopin lần thứ 10 (10-1980) tổ chức tại Varszawa, Ba Lan. Tiếp bước Đặng Thái Sơn là những tài năng khác như­ Tôn Nữ Nguyệt Minh (piano); Ngô Thành, Khắc Hoan (violon)... mang tiếng đàn chinh phục ban giám khảo và các khán giả sành điệu trong các cuộc thi âm nhạc quốc tế và sân khấu thế giới.

Quả thật, dòng nhạc nào cũng kén người nghe và không phải ai cũng thích nghe nhạc thính phòng hay nhạc giao hưởng. Và nếu như anh bộ đội Huy Đức không thích "Đêm Trường Sơn nhớ Bác" mà lại ưa những bài hát có "người lính xa nhà, đêm tiền đồn còn nhớ mẹ, nhớ em" thì cũng chả sao.

Trong hồi ký của mình, nhạc sĩ Phạm Duy đã nhận định rằng: "Đầu thập niên 70 là lúc Nhạc Việt, trong phạm vi ca khúc, phát triển đến tột độ. Có sự thành công của những bài hát thông thường và chỉ được coi là nhạc thương phẩm - mệnh danh là nhạc vàng - với những tình cảm dễ dãi phù hợp với tuổi choai choai, với em gái hậu phương và lính đa tình, tuy không được coi trọng nhưng lại rất cần thiết cho vài tầng lớp xã hội trong thời chiến."

 

---------------


Thứ Sáu, 20 tháng 6, 2025

Bài thơ Dương Phi cố lý của Nguyễn Du (và Đặng Thị Huệ)

 

 

Nhân vật Dương Quý Phi bên Tàu và Vương phi Đặng Thị Huệ bên ta có nhiều điểm tương đồng:

Cả hai đều đẹp, không chỉ đẹp mà còn đẹp quá, nên "Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen".

Dương Quý Phi nhập cung với thân phận là một "nữ đạo sĩ" (hầu việc cầu cúng)  được vua Tàu Đường Huyền Tông yêu dấu mà phong làm Quý phi.

Đặng Thị Huệ thì vốn là một nữ tỳ được chúa Trịnh Sâm sủng ái mà phong làm Tuyên phi.

Quý Phi bị Tàu coi là mầm mống sinh ra đại loạn, gây tai họa cho nhà Đường.

Tuyên Phi (Đặng Thị Huệ) thì  bị coi là nguyên nhân của nhiều biến cố thời vua Lê chúa Trịnh, dẫn đến cơ đồ hơn hai trăm năm của nhà Trịnh sụp đổ.

Dương Quý Phi có anh trai là Dương Quốc Trung, còn Đặng Tuyên Phi có em trai là Đặng Mậu Lân. Trung và Lân giống nhau ở chỗ đều bị đánh giá là cậy thế người nhà vua chúa làm những việc vô đạo, xa hoa, càn rỡ, gây ra nạn “kiêu binh”, làm tổn hại tới vận mệnh triều đình.

Kết cục Dương Quý Phi bị buộc phải thắt cổ, còn Đặng Thị Huệ thì tự uống thuốc độc mà chết.

Bài thơ Dương Phi Cố Lý (Quê cũ Dương Quý Phi), là bài số 44 trong tập Bắc hành tạp lục của đại thi hào Nguyễn Du. Thời điểm sáng tác bài thơ được cho là vào năm 1789, khi Nguyễn Du nhàn du bên Tàu trong các năm 1787-1790.

Khi Nguyễn Du viết bài thơ này, thì Đặng Thị Huệ mới chết được 5 năm (1784), còn Dương Quý Phi đã chết cách đó hơn 1.000 năm (756).

Dương Phi cố lý

Phiên âm:

Sơn vân tước lược ngạn hoa minh,

Kiến thuyết Dương Phi thử địa sinh.

Tự thị cử triều không lập trượng,

Uổng giao thiên cổ tội khuynh thành.

Tiêu tiêu Nam nội bồng cao biến,

Mịch mịch Tây Giao khâu lũng bình,

Lang tạ tàn hồng vô mịch xứ,

Đông phong thành hạ bất thăng tình

Dịch:

Bờ hoa rực rỡ núi vờn mây

Thấy bảo Dương phi sinh đất này

Một thủa triều đình toàn tượng đứng

Ngàn năm người ngọc chịu tai bay

Lặng ngắt Tây Giao gò hóa phẳng

Đìu hiu Nam nội cỏ mọc dày

Cánh hồng tàn rụng tìm đâu thấy?

Dưới thành duy có gió Đông hay...

Khác với “dư luận xã hội” bấy giờ (và cả bây giờ), cụ Tiên Điền không “ném đá” Dương Quý Phi mà chỉ rõ, nhà Đường mất nước là do đám quan lại triều đình quanh năm ăn hại nói khoác, đến lúc cần hành động thì hóa ra toàn là tượng đá, sao lại đổ oan cho sắc đẹp làm nghiêng thành?

Không rõ khi viết bài thơ này, cụ Tiên Điền có liên tưởng đến thân phận Đặng Thị Huệ chăng?

Cũng có thể lắm chứ, vì:

"Đau đớn thay phận đàn bà,

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung..."


---------------------

Thêm:

Nguyễn Du có ông anh là Nguyễn Khản làm quan dưới trướng Trịnh Sâm, lại thân thiết với Trịnh Sâm và Đặng Tuyên phi như người nhà. Phạm Đình Hồ, trong Vũ trung tùy bút, viết:

"Khi chúa Trịnh Thịnh vương (Trịnh Sâm) còn ở Lương quốc phủ, thì ông Nguyễn Khản làm Phiên liêu, hàng ngày được vào hầu yến trong nội cung Thịnh vương, thân thiết như bạn áo vải. Năm Đinh Hợi (1767) thăng cho ông Khản làm Tri phiên liêu kiêm quản Nhất hùng cơ, tước Kiều nhạc hầu. Khi ấy, trong nước bình yên vô sự. Thịnh vương lại thích đi ngự chơi, lúc đi thưởng hoa, lúc đi câu cá, thế nào cũng có ông Nguyễn Khản cùng đi. Khi trở về, thì ông lại mặc áo chẽn tay hẹp ra vào nơi cung cấm. Nhà chúa đặc ban cho ông được đi lại ra vào không khác gì quan nội giám. Khi chúa Trịnh thưởng ca, thường sai Nguyễn Khản ngồi hầu. Ông được đội khăn lương, mặc thường phục, ngồi ngay bên cạnh, cầm chầu điểm hát. Những ngày rỗi, chúa Trịnh lên ngự chơi Hồ Tây, kẻ thị thần vệ sĩ bày hàng quanh cả bốn mặt hồ, nhà chúa chỉ cùng với bà Đặng Tuyên phi ngồi trên thuyền, mà Nguyễn Khản thì ngồi hầu ngang trước mặt, cùng thưởng lãm, cười nói, không khác gì bạn bè, người nhà".

Thứ Ba, 17 tháng 6, 2025

AN ỦI CÔNG CHỨC CẤP HUYỆN

 


Ngày 16/6/2025, với 466/466 phiếu tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi) theo đó, việc giải thể cấp huyện sẽ diễn ra từ ngày 1/7/2025.

Khi đó, 696 đơn vị hành chính cấp quận, huyện (gồm cả 85 thành phố thuộc tỉnh, 2 thành phố trực thuộc Trung ương) sẽ dừng hoạt động. Hệ thống hành chính Việt Nam sẽ chuyển sang mô hình hai cấp (tỉnh/thành phố và xã/phường/thị trấn).

Xin bầy tỏ lòng biết ơn đối với các anh chị em là công chức cấp huyện đã tận tâm, tận lực cống hiến trong một thời kỳ lịch sử của đất nước.

 

Hỡi ôi,

Thế sự thăng trầm,

Lòng người bối rối.

Giải thể huyện chính thức triển khai,

Sáp nhập tỉnh tiến hành nóng hổi.

Bỏ đi e tỉnh xã còn thương,

Giữ lại ngại trung ương bảo tội

Trước đã đeo một cổ hai tròng

Nay lại chịu ba chìm bảy nổi

Mấy chữ lệ sa

Vài hàng viết vội...

 

Nhớ anh xưa,

Tính nết khoan hòa

Con nhà dòng dõi

Doanh nghiệp gọi mấy lần từ chối

Công chức thi một phát vào ngay

Cũng luân chuyển chỗ này chỗ nọ

Lại học thêm trường đó trường này

Tuy có lúc lên xe xuống ngựa,

Song thường xuyên đít thớt đầu chày.

Tỉnh xuống ta mổ trâu mổ lợn,

Ta lên tỉnh: đi đâu vậy mày?

Ngó lên trên ta hơi dở dở,

Nhìn xuống dưới mình cũng hay hay...

 

Những tưởng ghế bàn bền vững mãi,

Ngờ đâu cơ chế đổi dời ngay...

 

Giờ bảo về cày ruộng,

Ruộng đếk đâu mà cày,

Ngỡ đất lành chim đậu,

Mà vạ gió tai bay...

Trước là anh công chức,

Nay thành ông ăn mày!

 

Thôi thì...

Mua xâu chả chó,

Nhấp chén rượu cay.

Lợi riêng đành chịu kém,

Nghĩa lớn quyết đong đầy.

Chia tay quận huyện nhiều lưu luyến

Mở mặt non sông ắt đổi thay.

 

-----------------


Thứ Ba, 10 tháng 6, 2025

Tường thuật của Chính ủy Bùi Tùng khác với lời kể của chiến sĩ liên lạc Nguyễn Văn Phúc


Ông Nguyễn Văn Phúc là chiến sĩ liên lạc của Chính ủy Bùi Tùng.

Bài báo "Gặp chiến sĩ liên lạc của Chính ủy Bùi Tùng", đăng trên báo Tuổi Trẻ Thủ đô, của tác giả Nguyễn Hữu Mão được đăng vào ngày 30/4/2022. Link hiện tại: https://tuoitrethudo.vn/gap-chien-si-lien-lac-cua-chinh-uy-bui-tung-195285.html

Bài báo này mang đến nhiều thông tin khác với Bản tường thuật (đánh máy) của Chính ủy Bùi Tùng hiện cũng vẫn còn được lưu hành trên mạng: https://www.facebook.com/groups/Xetang2016/permalink/2061377664002117/

Nội dung cả hai bài viết nói trên đều dài, dưới đây chỉ trích lại các đoạn đáng lưu ý mà thôi. Bài báo về Chiến sĩ liên lạc Phúc được trích dẫn sau chữ Ô. Phúc, tường thuật của Chính ủy Tùng được trích dẫn (không sửa chính tả) sau chữ Ô. Tùng. Các giải thích, nhận xét (không bình luận) của Locliec được in nghiêng. Các tiêu đề nhỏ là do Locliec đặt.

1. Chính ủy Bùi Tùng vào dinh bằng xe gì?

Ô. Phúc: "Sáng 30/4/1975, xe bọc thép K63 của Chính ủy Bùi Tùng tiến vào nội đô, rồi "đến trước cổng Dinh Độc Lập, trong sân dinh lúc ấy đã có mấy chiếc xe tăng của Lữ đoàn, một vài chiến sĩ đang phất cờ trên tầng 2. Chiếc K63 chạy vào trong sân dinh và dừng lại, ông Phúc, ông Quý mang theo súng AK cùng Chính ủy Tùng nhảy xuống xe. Ông Phúc và Chính ủy Bùi Tùng chạy vào dinh, còn ông Quý chạy vòng ra phía sau dinh…"

 Ông Phúc cho biết: Trên xe (K63) gồm: Lái xe Khang, Chính ủy Bùi Tùng, trợ lý Tham mưu Trịnh Xuân Quý và chiến sĩ liên lạc Nguyễn Văn Phúc, Ông Tài (lữ đoàn trưởng) không đi xe này

Ông Tùng chỉ nói chung chung là xe thiết giáp.

Xe K63 là xe thiết giáp chở bộ binh do TQ thiết kế và sản xuất, (chở tối đa 15 người).

2. Gặp nội các Dương Văn Minh:

Ô. Phúc: "Trong phòng lúc đó có vài chiến sĩ ta. Phía ngoài hành lang, bộ đội ta lên mỗi lúc một đông. Chính ủy Bùi Tùng cao hơn mọi người, rẽ đám đông vào phòng. Đến trước dãy ghế có những người đang ngồi, ông hỏi: “Ai là Dương Văn Minh?”. Ông Minh dứng dậy. Chính ủy Bùi Tùng dõng dạc nói: “Ông Minh! Các ông đã bị bắt. Các ông phải đầu hàng vô điều kiện!”.

Ô. Tùng: "Lúc này người chỉ huy có cấp hàm và chức vụ cao nhất của quân đội ta tại dinh độc lập là đồng chí trung tá Nguyễn Tất Tài lữ đoàn trưởng và trung tá Bùi Văn Tùng chính ủy lữ đoàn ( chế độ hai thủ trưởng ). Nên mọi việc tại dinh phải trật tự nhất nhất theo kỷ luật quân đội , kỷ luật chiến trường , các cấp dưới thuộc quyền và phối thuộc đều phải chấp hành theo mệnh lệnh của chúng tôi, mặt khác để quân ngụy thấy rõ kỷ luật của quân đội cách mạng . Đồng chí Phạm Duy Đô quyền đại đội trưởng đặc công theo các xe tăng dẫn đầu vào trước , thấy chúng tôi vào ra báo cáo “Chính phủ ngụy và cả Dương Văn Minh đều ở trong dinh, mời các thủ trưởng vào giải quyết. Thấy chúng tôi vào Dương Văn Minh nói ngay “ chúng tôi chờ các ông vào để bàn giao “. Tôi bực mình nói ngay : “ Các ông chẳng còn gì để mà giao, chỉ có một việc là đầu hàng không điều kiện"

Theo ông Phúc, chính ủy Bùi Tùng và chiến sĩ liên lạc Phúc, (không có ông Tài, lữ đoàn trưởng) bước lên hành lang thì trong phòng và ngoài hành lang đã có nhiều bộ đội, và ông Bùi Tùng phải "rẽ đám đông vào phòng".

Nhưng theo ông Bùi Tùng thì cùng bước vào dinh còn có Trung tá Nguyễn Tất Tài. Trước đó nữa thì đã có Đại đội trưởng đặc công Phạm Duy Đô ra đón "chúng tôi", và khi ông Minh nói "chờ các ông vào bàn giao" là nói với "chúng tôi" - ông Tùng và ông Tài. Nghĩa là ông Tài luôn ở cạnh ông Tùng trong quá trình "bắt" Dương Văn Minh.

3. Ra Đài Phát thanh

Ô. Phúc: "Lúc đó, ông Phúc mới sực nhớ lời dặn của Lữ trưởng Nguyễn Tất Tài khi ở Thủ Đức là khi nào bắt được Dương Văn Minh thì báo ngay cho ông biết nên ông Phúc vội chạy ra ngoài tìm Lữ trưởng để báo cáo".

"... tôi phải mất đến mấy phút mới tìm được Lữ trưởng Nguyễn Tất Tài đang đứng ở giữa sân dinh. Tôi chạy lại báo cáo: “Báo cáo Lữ trưởng! Đã bắt được Dương Văn Minh rồi!”.

"Lữ trưởng hỏi lại: “Bây giờ ở đâu?”. Lúc ấy tôi ngoái cổ nhìn về phía dinh thì thấy một số người đã đưa Dương Văn Minh ra và lên một chiếc xe Jeep. Chính ủy Tùng cũng lên một chiếc xe phía sau và hai xe cùng chạy ra khỏi dinh. Tôi vội chỉ tay và nói với Lữ trưởng Tài: “Quân ta đưa ông Minh ra Đài Phát thanh và Chính ủy Tùng cũng đi theo rồi kia ạ”. Lập tức Lữ trưởng Tài dậm chân xuống đất nổi nóng quát: “Ai bảo làm việc ấy? Nếu họ giả danh Quân Giải phóng giúp Dương Văn Minh tẩu thoát thì bố Tùng nhà cậu chết!”. Nhìn quanh một vòng, Lữ trưởng Tài bảo: “Cậu đi tìm cho tôi mấy trợ lý lại đây!”.

"Tôi chạy tìm xung quanh thì may sao gặp được anh Quý, trợ lý Tham mưu nên gọi anh cùng đến gặp Lữ trưởng Tài. Lữ trưởng nói: “Bây giờ hai cậu bằng mọi cách tìm xem Đài Phát thanh ở đâu, đến đó xem Dương Văn Minh và ông Tùng có ở đấy không? Nếu gặp ông Tùng thì nhắc ông ấy phải kiểm tra mật danh xem nhóm người dẫn Dương Văn Minh đi là đơn vị nào? Xong về báo cáo tôi!”.

Ô. Tùng: "Có một cán bộ rất trẻ đề nghị ( I ) : hay là ta đi bằng hai xe jeep “ . Tôi đồng ý. Đồng chí cán bộ trẻ và một hai bộ đội ta cùng với Minh Mẫu lên xe đầu .Tôi cùng hai chiến sỹ lên xe sau . Thấy xe rộng một người thấp , đầu hình như búi tó , nói tiếng Việt rất sõi xin đi tôi cho lên xe, tôi tưởng là phóng viên người Nhật ( sau này anh Thành tín Bùi Tín cho tôi biết đó là Hà Huy Đỉnh nhà báo ở Sài Gòn ). Một người Âu nói tiếng Pháp hỏi tôi biết tiếng Pháp không . tôi nói tôi biết .Người ấy tự xưng là người Tây Đức sẽ nói tốt cho quân cho quân giải phóng xin đi , tôi cho lên xe và bu theo một vài nhà báo phương tây nữa".

Theo ông Phúc: Khi nhóm bộ đội đã đưa tướng Minh lên xe để sang Đài Phát thanh, được ông Phúc báo, Trung tá Nguyễn Tất Tài mới biết đã bắt được Dương Văn Minh. Ông Tài không biết ông Tùng đang ở đâu và "nổi nóng" với ông Tùng: Dương Văn Minh tẩu thoát thì bố Tùng nhà cậu chết!

Ông Tùng lại tường thuật khác: Cả ông Tùng và ông Tài đều cùng vào "bắt" ông Minh. Sau đó ông Tùng sang đài Phát thanh bằng xe Jeep thứ hai của "một cán bộ trẻ", trên xe ông Tùng gồm: 2 bộ đội, ông Tùng, ông Đỉnh, nhà báo Đức và bu theo "một vài nhà báo phương Tây nữa", (chưa tính lái xe). Còn xe của "cán bộ trẻ" chỉ có "một hai bộ đội cùng với Minh,  Mẫu"

4. Ở đài Phát thanh Sài Gòn

Ô. Phúc: "Tôi lại nhờ người đưa đến Đài phát thanh. Đến Đài phát thanh, tôi thấy có 2 chiếc xe Jeep đỗ ở phía trái sân. Tôi ôm súng đi lên. Qua tầng 1 thấy có một nhóm bộ đội ta đang túm tụm làm việc gì đó nhưng không thấy Chính ủy Tùng. Tôi đi thẳng lên tầng 2, thấy phòng tiếp khách mở cửa, tôi đi vào. Mừng quá! Chính ủy Tùng đây rồi!"

"Tôi tiến lại đứng cạnh Thủ trưởng của mình và đưa cho ông tờ giấy tôi ghi lời dặn của Lữ trưởng là Chính ủy phải kiểm tra mật danh của nhóm người dẫn giải Dương Văn Minh. Một lát sau, tôi thấy một người đeo xà cột chéo trước ngực tiến tới trước mặt Dương Văn Minh và đưa cho ông ta một tờ giấy. Ông Minh xem lướt qua và nói với người đó:Chữ thượng cấp viết thế này, tôi không đọc được”. Nghe ông Minh nói vậy, Chính ủy Tùng vội với tay lấy tờ giấy từ tay ông Minh, đọc lướt qua rồi nói dằn giọng: “Tại sao lại viết là Tổng thống Việt Nam Cộng hòa? Nếu viết như vậy hóa ra công nhận Việt Nam cộng hòa là một quốc gia có chủ quyền và thế là mình đi xâm lược à?”.

Ô. Tùng: "Sẵn tập pơ-luya xanh nhạt trên bàn tôi lấy một tờ thảo chữ viết bằng bút máy bi to và rõ . thảo xong (2) tôi đưa cho Minh. Minh xem xong và nói : “ Thưa ông , đề nghị ông bỏ hai chữ tổng thống “ . Tôi hỏi lại : “ anh lấy cương vị gì để ra lệnh cho sỹ quan và binh sỹ anh hạ vũ khí đầu hàng vô điều kiện và anh đứng cương vị nào để giải tán được chính quyền của anh từ trung ương đến địa phương , phải là người cầm đầu của chính quyền này chứ , mà theo tôi biết người cầm đầu của chính quyền này là tổng thống ? “. Minh nói:” đúng , đúng , ông nói đúng , nhưng thưa ông tôi không thích cái tổng thống này , dân chúng và binh sỹ họ cũng không thích tổng thống này , chỉ cần để đại tướng là họ sẽ nghe theo tôi “. Tôi bực mình và nghiêm sắc mặt nói với Minh : “ anh chỉ có sỹ quan và binh sỹ của anh thôi.Anh nói anh không thích tổng thống này là không đúng . Chính anh đã nhận tổng thống từ tay Trần Văn Hương và anh đã làm tổng thống ba ngày rồi , tại sao anh nói anh không thích ?”. Đuối lý , Minh chịu.Tôi lại bảo : “ Đây là những điều kiện của chúng tôi , còn lời tuyên bố đầu hàng không điều kiện của anh thì anh phải ghi lại”.trong khi Minh đang chép lại lời đầu hàng , tôi lại nghĩ có kẻ đầu hàng thì phải có người chấp nhận đầu hàng , nếu không dân chúng tưởng do lòng tốt của Minh và tự Minh đơn phương đầu hàng , chứ không phải do ta đánh tận vào sào huyệt và bắt chúng phải đầu hàng".

Theo ông Phúc, người đeo xà cột chéo trước ngực là người đầu tiên viết lời Tuyên bố đầu hàng. Chữ xấu, ông Minh đọc không được và do trong đó có chữ "Tổng thống VNCH", nên sau đó Chính ủy Tùng viết lại.

Ông Tùng thì nói chỉ có mình ông thảo tuyên bố đầu hàng. Sau đó, ông Minh chép lại.

  5. Người đeo xà cột chéo và một cán bộ rất trẻ là ai?  

Ô. Phúc: "Hình như lúc đó Chính ủy Tùng nhớ đến lời dặn của Lữ trưởng do tôi vừa truyền đạt, ông hỏi ngay: “Vậy anh là ai?”.

Người ấy đáp: “Tôi là Phạm Xuân Thệ, Trung đoàn phó Trung đoàn 66, đoàn Đông Sơn, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2. Còn anh là ai?”. Chính ủy Tùng trả lời: “Tôi là Bùi Tùng, Chính ủy Lữ đoàn Xe tăng 203, Quân đoàn 2”.

Ô. Tùng:"Đồng chí cán bộ rất trẻ đó sau này về đơn vị tôi mới biết đó là Đại úy Phạm Xuân Thệ . Mặt tốt của đồng chí và một số anh em bộ đội ta là lúc nào cũng đi kèm sát Dương Văn Minh từ dinh Độc lập ra đài phát thanh và ngược lại, nên tôi đỡ lo vì có việc gì xẩy ra với Minh đã có anh em mình kèm chặt"..

 Ông Phúc cho biết ông Tùng đã chủ động hỏi tên ông Thệ theo chỉ thị của lữ trưởng Tài.

Còn ông Tùng, thì sau này về đơn vị mới biết "Đồng chí cán bộ rất trẻ đó" là Đại úy Phạm Xuân Thệ.

5. Trong phòng bá âm.  

Ô. Phúc: "Khi các nhân viên của đài làm công tác chuẩn bị phát sóng xong thì ông Minh, nhà báo Tây Đức đem theo máy ghi âm vào phòng phát thanh. Nhóm cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 66 cùng theo vào nhưng Chính ủy Tùng và tôi không vào phòng đó mà chỉ ở bên ngoài nhìn vào.

- Có phải vì thế mà trong bức ảnh chụp ông Dương Văn Minh và nhà báo Tây Đức ngồi trước bàn có chiếc máy ghi âm trong phòng phát thanh chuẩn bị phát sóng, xung quanh có Phạm Xuân Thệ và một số anh em Trung đoàn 66 nhưng không có Chính ủy Bùi Tùng?

- Đúng thế! - ông Phúc khẳng định".

Ô. Tùng: "Khi hai lời phát của Minh và tôi máy đã ghi âm xong thì nhân viên đài phát thanh đều chạy về và họ vui vẻ làm việc. Tôi hỏi máy móc có hư hỏng gì không. Anh chị em trả lời máy phát tốt nguồn điện được . họ đưa chúng tôi xuống phòng bá âm có kính ngăn đôi . Kỹ thuật viên ra lệnh im lặng, chúng tôi chứng kiến máy phát đi lời đầu hàng không điều kiện của tổng thống ngụy quyền và lời chấp nhận đầu hàng của tôi đại diện quân giải phóng đánh chiếm dinh Độc Lập".

Theo ông Phúc: Ông Tùng và ông Phúc ở ngoài, không vào phòng bá âm.

Ông Tùng tường thuật: ông có ở trong phòng bá âm.

6. Tờ giấy bản thảo.

Ô. Phúc: "Về tờ giấy mà ông Tùng ném vào góc phòng, có người cúi nhặt thì bị đòi lại và xé vụn ra, ông Phúc lý giải:

- "Họ nhầm đấy! Đó là tờ giấy màu trắng của tôi ghi lời dặn của Lữ trưởng đưa cho Chính ủy là phải kiểm tra mật danh của nhóm người dẫn giải Dương Văn Minh".

Ô. Tùng:"Hai bản thảo gốc này nhà bảo tàng quân đoàn 2 cất giữ trong kho . khi anh Trọng ở viện bảo tàng quân đội đến tôi lấy tài liệu, tôi đề nghị anh Trọng lên quân đoàn 2 lấy hai bản thảo gốc đó".

 

                                                                               ------------------

Thứ Ba, 3 tháng 6, 2025

Người cắm cờ Giải phóng trên nóc Bộ Quốc phòng VNCH

 

Báo chí chính thống gần như không viết gì về việc đánh chiếm và cắm cờ tại trụ sở Bộ Quốc phòng của chính quyền ngụy ngày 30/4/1975. Hầu hết chỉ nói đến sự kiện cắm cờ tại Bộ Tổng Tham mưu Quân đội VNCH.

Có khi nhà báo còn lầm lẫn giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Tham mưu Quân đội VNCH.

Chẳng hạn như ở bức ảnh này:



Thì lại được ghi chú là: Quân giải phóng đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy ngày 30-4-1975. Mặc dù ngay trong ảnh đã có sẵn dòng chữ BỘ QUỐC PHÒNG.

Bộ Tổng tham mưu Quân đội VNCH là đơn vị trực thuộc Bộ Quốc Phòng. Vào tháng 4/75 thì Trung tướng Trần Văn Đôn là Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòngÔng Đôn di tản vào lúc 7 giờ 30 tối ngày hôm trước (29/4/75).

Bộ Quốc phòng ngụy đóng trụ sở tại đường Gia Long cũ, nay là trụ sở Sở Giao thông Công chính trên đường Lý Tự Trọng, chỗ này mình hay ra vào nên nhìn tòa nhà trên ảnh thì nhận ra ngay. Còn Bộ Tổng tham mưu ngụy đóng ở đường Võ Tánh cũ, nay hình như là Bộ Tư lệnh Quân khu 7, đường Hoàng Văn Thụ.

Lực lượng đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu-cơ quan Tổng hành dinh quân lực Việt Nam Cộng hòa là Trung đoàn 28, Sư đoàn 10 thuộc Quân đoàn 3 và người cắm cờ chiến thắng là các anh Trần Lựu và Nguyễn Duy Tân (Trung đoàn 28).

Còn lực lượng đánh chiếm Bộ Quốc Phòng vẫn là mũi thọc sâu của Quân đoàn II gồm Lữ đoàn 203 Tăng-Thiết giáp và Trung đoàn bộ binh 66 (sư đoàn 304)... . Cụ thể gồm một xe Thiết giáp của Lữ đoàn 203 có gắn đại liên 12 ly 7 và đơn vị phối thuộc là các chiến sĩ của Đại đội Trinh sát (C20), Trung đoàn 66 (ảnh trên).

Người cắm cờ trên nóc Bộ Quốc phòng ngụy là các anh Trần Hùng, anh Minh, anh Thọ..., thuộc Đại đội Trinh sát (C20) của Trung đoàn 66 (trung đoàn mà anh Phạm Xuân Thệ là trung đoàn phó).

Nhân chứng kể lại như Video dưới đây: 

(https://www.youtube.com/watch?v=5UY46iU90IM)